NGUYỄN TẤT THÀNH TỪ THÁI LAN TRỐN SANG HỒNG KÔNG (Bùi Anh Trinh)

Giải mã những bí ẩn của Nguyễn Tất Thành

Bài 10: NGUYỄN TẤT THÀNH TỪ THÁI LAN TRỐN SANG HỒNG KÔNG

Trích sách “Chuyện nước non đau lòng tới nghìn năm” của Bùi Anh Trinh do Làng Văn phát hành năm 2008 :

Nguyễn Tất Thành từ Thái Lan trốn sang Hồng Kông

Năm 1930, đầu năm, chính quyền Pháp mời Vua Thái Lan sang thăm Việt Nam rồi ký hiệp ước thân thiện. Theo hiệp ước này chính quyền Thái Lan tự coi như có nhiệm vụ tìm bắt những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam để giải giao cho Pháp. Với hiệp ước này, người bị nhắm đầu tiên là ông Nguyễn Tất Thành (Mai Pín Thầu) bởi vì trong khu người Việt ai cũng biết ông là một cán bộ hàng đầu của Cọng sản, trước đó các ông hoạt động gần như công khai.

Năm 1930, ngày 16-5, Chính quyền Pháp ký với Tưởng Giới Thạch một hiệp ước gồm 11 khoản, chủ yếu là Tưởng Giới Thạch sẽ bắt các đảng viên CSVN tại Trung Hoa giao cho Pháp. Ngược lại Pháp bắt giữ các cán bộ của Mao Trạch Đông trốn sang Việt Nam giao cho Tưởng Giới Thạch.

Năm 1930, tháng 5, Lý Thụy gởi thư cho vợ là bà Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu. Trong thư yêu cầu Tăng Tuyết Minh mau mau đến Thượng Hải để đoàn tụ, trong thư cũng cho biết một kỳ hạn, nếu quá kỳ hạn đó thì ông sẽ xuất ngoại một mình. Rất tiếc là vì một sự vô ý thức của một ông bác sĩ mà thư không đến được tay người nhận. Đến khi bà Tuyết Minh được nhắn lại nội dung thì đã hơn nửa năm.

* Chú giải: Chuyện về bức thư này do bà Tăng Tuyết Minh kể lại cho sử gia Hoàng Tranh. Tháng 5 năm 1930 thì Lý Thụy đang còn ở Thái Lan, nhưng trong một chuyến đi gặp Cục Viễn Đông tại Thượng Hải ông đã gửi thư bằng bưu điện cho bà Tăng Tuyết Minh. Khi thư được gởi tới bệnh viện, nơi bà Minh đang làm việc, thì lúc đó bà đi công tác xa cho nên ông giám đốc bệnh viện mới xé thư ra xem và đưa cho 2 y sĩ khác cùng xem rồi sau đó hủy đi. Đến khi bà Minh hết hạn công tác trở về thì một nữ y sĩ đã kể lại nội dung thư của Lý Thụy cho bà.

Vì qua hai lời kể lại theo trí nhớ cho nên khó xác định tính chính xác nội dung cũng như ngày giờ của bức thư này. Tuy nhiên chi tiết nói rằng nếu bà không tới thì ông sẽ xuất ngoại một mình chứng tỏ được rằng tháng 5 năm 1930 ông vẫn có ý định lập nghiệp tại Thái Lan, muốn sống một cuộc sống an bình tại đó và hoàn không thiết tha tới chuyện chính trị tại Hồng Kông hay Hoa Nam. Và nếu đúng như thế thì sau này có nguồn tin cho rằng lúc đó sáng sáng ông đến văn phòng của Bộ chỉ huy Đảng tại Hồng Kông làm việc và ông đang “phải lòng” Nguyễn Thị Minh Khai là không đúng.

Năm 1930, tháng 5, vì sự ruồng bố của chính quyền Thái Lan, Nguyễn Tất Thành phải trốn qua Hồng Kông , nơi này thuộc quyền kiểm soát của người Anh, họ cũng cấm hoạt động cho Cọng sản nhưng không ruồng bắt gắt gao như trong vùng của Tưởng Giới Thạch.

* Chú giải: Theo Hoàng Tùng thì vị thế của NTT lúc đó rất bi đát: “Năm 1931-1932, ở Hương Cảng, Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho CSQT đề nghị giao việc, vì thời gian đó Bác chỉ làm nhiệm vụ một hộp thư…”(Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ). Có lẽ là Hoàng Tùng nhớ lộn hoặc là bài viết của Hoàng Tùng trên Website đã ghi lầm năm hoạt động của Nguyễn Tất Thành tại Hồng Kông vì giữa năm 1931 ông đã bị bắt và năm 1932 hoàn toàn nằm trong tù. Thực ra đây là năm 1930-1931.

Giữa tháng 2 năm 1930 NTT quyết định làm lành với CSQT sau khi ông tìm gặp lại họ để báo cáo về việc giải quyết thống nhất ĐCSVN. Sau đó ngày 20 tháng 4 ông lại có dịp gặp gỡ cán bộ của CSQT nhân đại hội thành lập ĐCS Thái Lan. Cũng trong đại hội này ông gặp bí thư ĐCS Mã Lai là Trương Phước Đạt, ông này mời ông tham dự Đại hội Trung ương ĐCS Mã Lai vào tháng 5. Tại đây một lần nữa ông gặp lại cán bộ của CSQT mà trụ sở của họ đặt tại Thượng Hải. Lần này thì ông ngõ ý xin được làm việc với CSQT vì nhà cầm quyền Thái Lan mới ký hiệp ước thân thiện với Pháp cho nên Thái Lan sẽ không để yên cho ông.

Cục Viễn Đông/CSQT nhận ông làm việc như là một trạm giao liên của Vụ Phương Nam (Southern Bureau), một chi nhánh của Cục Viễn Đông/ CSQT, do Thibault lãnh đạo, trụ sở nằm trong Cục Viễn Đông tại Thượng Hải ( Cần ghi nhớ là ông Nguyễn Tất Thành là trưởng trạm giao liên của Vụ Phương Nam chứ không phải là Vụ trưởng Vụ Phương Nam ). Công việc của Nguyễn Tất Thành tại Hồng Kông là nhận các thư từ do các nhân viên giao liên của các đảng CS Đông Dương, Mã Lai và Nam Dương đưa tới; sau đó ông chuyển các thư từ đó cho các nhân viên giao liên của CSQT (Cục Viễn Đông). Ngược lại, ông nhận các chỉ thị của Cục Viễn Đông từ tay các nhân viên giao liên của Thượng Hải và chuyển cho giao liên của các tổ chức Cọng sản tại Đông Nam Á.

Một trong số các giao liên với Thượng Hải là Trương Văn Lệnh. NTT đánh máy các văn thư tại nhà riêng là một địa chỉ bí mật. Lúc này ông mang tên là Tống Văn Sơ, và mật danh để liên lạc với Cục Viễn Đông là “Victor”. Do đó Hoàng Tùng nói rằng nhiệm vụ của ông chỉ là một “hòm thư”. Đến tháng 4 năm 1931 sau khi có sự hục hặc với Trần Phú và Ngô Đức Trì thì ông gửi thư cho Bí thư Văn phòng Viễn Đông là Noulens xin được về làm việc tại CVĐ mà Hoàng Tùng gọi là “đề nghị giao việc”, nhưng chưa được chấp thuận thì bị bắt.

Đảng cọng sản Đông Dương đời thứ nhất

( Đảng của Trần Phú &Ngô Đức Trì )

Năm 1930, tháng 6, một số cán bộ của Xứ ủy Bắc Kỳ bị ruồng bắt do ảnh hưởng của vụ nổi dậy của Nguyễn Thái Học đã phải chạy sang Trung Hoa. Đỗ Ngọc Du, Lưu Quốc Long, Nguyễn Lương Bằng chạy sang Hồng Kông gặp Nguyễn Tất Thành. Thành viết giấy giới thiệu cho các ông gặp Lê Quang Đạt là người phụ trách giao liên giữa Hồng Kông và Thượng Hải. Sau đó Đạt sắp xếp cho các ông về sinh sống tại Thượng Hải.

Lê Quang Đạt và vợ là Lý Phương Đức được ĐCS Trung Quốc phân công làm việc cho Cục Viễn Đông tại Thượng Hải, nhiệm vụ chính của hai người là liên lạc viên giữa Cục Viễn Đông tại Thượng Hải và trạm giao liên tại Hồng Kông do Nguyễn Tất Thành phụ trách. Ngoài ra hai người cũng đảm nhiệm đường dây đưa rước cán bộ Việt Nam đi Mạc Tư Khoa hay từ Mạc Tư Khoa trở về.

Năm 1930, ngày 14-6, Đỗ Ngọc Du, Lưu Quốc Long phụ trách in ấn một tờ báo bằng tiếng Pháp, mang tên là L’Armée, phát hành 2 tháng một lần; tờ báo tuyên truyền, kêu gọi công nhân và binh lính Việt Nam đang làm việc cho chính quyền Pháp tại Thượng Hải. Ngoài ra còn có tờ báo bằng tiếng Việt, mang tên là Giác Ngộ, do Lê Quang Đạt, Lý Phương Đức và Nguyễn Lương Bằng phụ trách. Tiền lương của các ông và chi phí in ấn do Cục Viễn Đông/CSQT đài thọ.

Năm 1930, ngày 19-9, Ngô Đức Trì mời Nguyễn Tất Thành, Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lệnh, Nguyễn Trọng Nhã đến gặp 2 đại diện của ĐCS Trung Quốc để cùng nhau bàn chuyện mở đại hội thành lập đảng Cọng sản Việt Nam được Trần Phú triệu tập vào tháng 10. Trong cuộc họp Hồ Tùng Mậu phản đối phong trào nổi dậy của Xô Viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra tại Việt Nam theo như hướng dẫn của Nguyễn Tất Thành. Tuy nhiên 2 đại diện của ĐCS Trung Quốc ngã theo chủ trương của Nguyễn Tất Thành, và Nguyễn Trọng Nhã cũng hoàn toàn đồng ý (Hsltr/Quốc gia Pháp, lời khai của Ngô Đức Trì).

Hồ Tùng Mậu thấy mọi người tán đồng quan điểm của Nguyễn Tất Thành bèn quyết định chấm dứt cọng tác với ĐCSVN. Cuộc họp này là nỗ lực cuối cùng của ông nhằm phản đối sự có mặt của Nguyễn Tất Thành trong tổ chức CSVN. Tuy nhiên kết quả của cuộc họp cho thấy Hồ Tùng Mậu đã thất bại. Như vậy là đã đến lúc ông phải chia tay, ông không thể tiếp tục làm việc với một người mà ông có nhiều nghi ngờ về khả năng cũng như tư cách đạo đức. Sự ly khai của Lê Tán Anh trước đó mấy tháng cũng đã góp phần cho quyết định cuối cùng của ông.

Năm 1930, ngày 14-10, Trần Phú triệu tập đại hội Đảng CSVN tại Hồng Kông, bầu ban chấp hành, Trần Phú là tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội thảo luận về các nghị quyết mới đây của CSQT và soạn thảo phương hướng hoạt động, hủy bỏ các phương hướng mà Lý Thụy đặt ra trong phiên họp thành lập đảng. Đại hội này không có mặt Lý Thụy. Sau đại hội thì Trần Phú mới cùng Lý Thụy đi gặp đại diện CSQT tại Thượng Hải. Đại diện QTCS đề nghị đổi tên đảng là Đảng Cọng sản Đông Dương. Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Trần Phú phát hiện lâu nay Nguyễn Ái Kvak giả danh CSQT để mở cuộc họp thành lập ĐCSVN vào ngày 3-2-1930. Bí thư Cục Đông Phương là Noulens chỉ thị Trần Phú đưa Nguyễn Ái Kvak ra kiểm điểm trước hội nghị Trung ương Đảng.

Năm 1930, ngày 9-12, một cuộc họp nội bộ kiểm điểm công khai các sai lầm của NTT trong việc ông thừa lệnh CSQT họp thống nhất hai đảng mà không có chỉ thị hay tài liệu hướng dẫn của CSQT, ông ta đã tự nghiễn ra phương hướng hoạt động để chỉ thị cho các đại biểu và phạm hàng loạt sai lầm…NTT đã nhận khuyết điểm và hứa sẽ sửa chữa những sai lầm (Hslt/MTK và “Văn Kiện Đảng”, tập 2, 1998). Sau hội nghị Trần Phú dời Tổng bộ ĐCSĐD về Sài Gòn. NTT ở lại Hồng Kông tiếp tục làm việc giao liên cho Vụ Phương Nam của Cục Viễn Đông/CSQT.

Nhiệm vụ của NTT là hộp thư liên lạc giửa ĐCSĐD và Cục Viễn Đông/CSQT tại Thượng Hải. Công việc của ông là nhận, dịch và chuyển thư. Tuy nhiên trong các thư chuyển về CSQT, khi nói về ĐCSVN, ông luôn luôn xưng là “Đảng bộ chúng tôi” tức là có ông trong nhóm đầu não. Nhưng ông lại xúi các Kỳ bộ địa phương gởi báo cáo về thẳng cho ông để ông chuyển về CSQT. Trong báo cáo của các Kỳ bộ ông cũng xưng là “Đảng bộ chúng tôi”, có nghĩa là ông đang chỉ huy các Kỳ bộ, gián tiếp cho MTK biết rằng Trần Phú mang tiếng là Tổng bí thư mà trên thực tế không được trong Đảng coi là người lãnh đạo Đảng.

Năm 1930, tháng 12, Trương Văn Lệnh bị bắt tại Hồng Kông vì hoạt động giao liên cho Cọng sản. Sau đó vì thấy ông chỉ là một giao liên cắc ké nên chính quyền Hồng Kông chỉ trục xuất ông khỏi Hồng Kông. Ông chạy về Quảng Châu và bị chính quyền Tưởng Gới Thạch bắt giam một thời gian, sau khi được thả thì ông chạy về Thượng Hải sống trong cộng đồng Việt Nam tại tô giới Pháp.

Năm 1931, ngày 12-3, đại hội trung ương lần hai họp tại Sài Gòn, có một đề mục được nêu ra là “Dấu hỏi về Lý Thụy”. Ngô Đức Trì than phiền NTT đã làm sai nguyên tắc khi thúc hối các Kỳ bộ phải gởi báo cáo thẳng cho ông ta mà không cho các Kỳ bộ tham khảo với Trần Phú hay Ngô Đức Trì (Hsltr/MTK).

Năm 1931, ngày 17-4, trước khi bị bắt, Trần Phú gởi cho CSQT bức thư liên lạc cuối cùng, trong thư tố cáo NTT giả danh CSQT tổ chức đại hội thống nhất (3-2-1930) mà không có lệnh của CSQT. Ngoài ra Trần Phú yêu cầu CSQT không giao cho NNT nhiệm vụ thông tin liên lạc giữa ĐCSĐD với CSQT bởi vì ông có cái tật biến các chỉ thị của CSQT thành ý kiến của mình trước khi chuyển cho ĐCSĐD. Ngược lại ông ta bắt các Kỳ bộ gửi báo cáo thẳng cho ông ta mà không thông qua trung ương ĐCSĐD (Hslt/MTK).

Cũng trong bức thư cuối cùng này, Trần Phú đã quy lỗi cho NTT trong phương hướng hành động sai lầm mà ông đã phổ biến cho các thành viên trong cuộc họp thống nhất đảng ngày 3-2-1930, ông viết : “Kết quả của hội nghị thống nhất này giống như thời kỳ hợp tác giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cọng sản Trung Quốc. Chỉ chủ yếu phản ánh một chính sách hữu khuynh trong Đảng Cọng sản Trung Quốc từ năm 1925 đến 1927…”, “Chúng tôi lưu ý các đồng chí đến tình huống này, không phải với mục đích chỉ trích đồng chí Kvak, mà chỉ để nhắc nhở các đồng chí về việc đảng Cọng sản Đông Dương thống nhất đã ra đời như thế nào và chỉ để chứng tỏ nó đã sai lầm cho Đảng của chúng tôi ngay cả cho đến nay…”.

Năm 1931, ngày 21-4, Cảnh sát Pháp tại Thượng Hải bắt Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Ngọc Du, Lê Quang Đạt và Lý Phương Đức, tất cả bị giải về Việt Nam vì tội hoạt động cho Cọng sản Việt Nam. ( Tô giới Pháp tại Thượng Hải là một nhượng địa của Trung Hoa nhượng cho Pháp nên chính quyền tại đây do người Pháp đảm nhận ). Cũng trong thời gian này Hồ Tùng Mậu bị bắt tại Hồng Kông nhưng sau đó được thả vào cuối tháng 6 và bị trục xuất khỏi Hồng Kông.

Năm 1931, ngày 23,24,25 tháng 3, Joseph Duroux, cán bộ của CSQT đến Sài Gòn tiếp xúc với 2 lãnh tụ của ĐCSĐD. Ông đề nghị ĐCSĐD nên mở đường giây giao liên sang Singapore đồng thời cho biết rằng NAQ có gởi thư cho Noulens, là bí thư của Cục Viễn Đông, để xin được vào làm việc trong Cục Viễn Đông, khỏi phải làm việc trực tiếp với ban lãnh đạo CSĐD vì họ đang có ý nghĩ không tốt về ông ( Hsltr/Văn khố quốc gia Hoa Kỳ/ Hồ sơ vụ án Noulens / Tài liệu của mật thám Pháp tại Đông Dương gởi cho mật thám Pháp tại Thượng Hải. Có lẽ 2 lãnh tụ CSĐD là Trần Phú và Ngô Đức Trì ).

Năm 1931, tháng 4, Joseph Ducrox bị bắt tại Singapor với quyển sổ tay ghi các địa chỉ mà ông từng liên lạc. Từ đó cảnh sát Anh, Mỹ, Pháp phăng ra các tổ chức Cọng Nguyễn Tất Thành từ Thái Lan trốn sang Hồng Kông

Năm 1930, đầu năm, chính quyền Pháp mời Vua Thái Lan sang thăm Việt Nam rồi ký hiệp ước thân thiện. Theo hiệp ước này chính quyền Thái Lan tự coi như có nhiệm vụ tìm bắt những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam để giải giao cho Pháp. Với hiệp ước này, người bị nhắm đầu tiên là ông Nguyễn Tất Thành (Mai Pín Thầu) bởi vì trong khu người Việt ai cũng biết ông là một cán bộ hàng đầu của Cọng sản, trước đó các ông hoạt động gần như công khai.

Năm 1930, ngày 16-5, Chính quyền Pháp ký với Tưởng Giới Thạch một hiệp ước gồm 11 khoản, chủ yếu là Tưởng Giới Thạch sẽ bắt các đảng viên CSVN tại Trung Hoa giao cho Pháp. Ngược lại Pháp bắt giữ các cán bộ của Mao Trạch Đông trốn sang Việt Nam giao cho Tưởng Giới Thạch.

Năm 1930, tháng 5, Lý Thụy gởi thư cho vợ là bà Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu. Trong thư yêu cầu Tăng Tuyết Minh mau mau đến Thượng Hải để đoàn tụ, trong thư cũng cho biết một kỳ hạn, nếu quá kỳ hạn đó thì ông sẽ xuất ngoại một mình. Rất tiếc là vì một sự vô ý thức của một ông bác sĩ mà thư không đến được tay người nhận. Đến khi bà Tuyết Minh được nhắn lại nội dung thì đã hơn nửa năm.

* Chú giải: Chuyện về bức thư này do bà Tăng Tuyết Minh kể lại cho sử gia Hoàng Tranh. Tháng 5 năm 1930 thì Lý Thụy đang còn ở Thái Lan, nhưng trong một chuyến đi gặp Cục Viễn Đông tại Thượng Hải ông đã gửi thư bằng bưu điện cho bà Tăng Tuyết Minh. Khi thư được gởi tới bệnh viện, nơi bà Minh đang làm việc, thì lúc đó bà đi công tác xa cho nên ông giám đốc bệnh viện mới xé thư ra xem và đưa cho 2 y sĩ khác cùng xem rồi sau đó hủy đi. Đến khi bà Minh hết hạn công tác trở về thì một nữ y sĩ đã kể lại nội dung thư của Lý Thụy cho bà. Vì qua hai lời kể lại theo trí nhớ cho nên khó xác định tính chính xác nội dung cũng như ngày giờ của bức thư này. Tuy nhiên chi tiết nói rằng nếu bà không tới thì ông sẽ xuất ngoại một mình chứng tỏ được rằng tháng 5 năm 1930 ông vẫn có ý định lập nghiệp tại Thái Lan, muốn sống một cuộc sống an bình tại đó và hoàn không thiết tha tới chuyện chính trị tại Hồng Kông hay Hoa Nam. Và nếu đúng như thế thì sau này có nguồn tin cho rằng lúc đó sáng sáng ông đến văn phòng của Bộ chỉ huy Đảng tại Hồng Kông làm việc và ông đang “phải lòng” Nguyễn Thị Minh Khai là không đúng.

Năm 1930, tháng 5, vì sự ruồng bố của chính quyền Thái Lan, Nguyễn Tất Thành phải trốn qua Hồng Kông , nơi này thuộc quyền kiểm soát của người Anh, họ cũng cấm hoạt động cho Cọng sản nhưng không ruồng bắt gắt gao như trong vùng của Tưởng Giới Thạch.

* Chú giải: Theo Hoàng Tùng thì vị thế của NTT lúc đó rất bi đát: “Năm 1931-1932, ở Hương Cảng, Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho CSQT đề nghị giao việc, vì thời gian đó Bác chỉ làm nhiệm vụ một hộp thư…”(Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ). Có lẽ là Hoàng Tùng nhớ lộn hoặc là bài viết của Hoàng Tùng trên Website đã ghi lầm năm hoạt động của Nguyễn Tất Thành tại Hồng Kông vì giữa năm 1931 ông đã bị bắt và năm 1932 hoàn toàn nằm trong tù. Thực ra đây là năm 1930-1931.

Giữa tháng 2 năm 1930 NTT quyết định làm lành với CSQT sau khi ông tìm gặp lại họ để báo cáo về việc giải quyết thống nhất ĐCSVN. Sau đó ngày 20 tháng 4 ông lại có dịp gặp gỡ cán bộ của CSQT nhân đại hội thành lập ĐCS Thái Lan. Cũng trong đại hội này ông gặp bí thư ĐCS Mã Lai là Trương Phước Đạt, ông này mời ông tham dự Đại hội Trung ương ĐCS Mã Lai vào tháng 5. Tại đây một lần nữa ông gặp lại cán bộ của CSQT mà trụ sở của họ đặt tại Thượng Hải. Lần này thì ông ngõ ý xin được làm việc với CSQT vì nhà cầm quyền Thái Lan mới ký hiệp ước thân thiện với Pháp cho nên Thái Lan sẽ không để yên cho ông.

Cục Viễn Đông/CSQT nhận ông làm việc như là một trạm giao liên của Vụ Phương Nam (Southern Bureau), một chi nhánh của Cục Viễn Đông/ CSQT, do Thibault lãnh đạo, trụ sở nằm trong Cục Viễn Đông tại Thượng Hải ( Cần ghi nhớ là ông Nguyễn Tất Thành là trưởng trạm giao liên của Vụ Phương Nam chứ không phải là Vụ trưởng Vụ Phương Nam ). Công việc của Nguyễn Tất Thành tại Hồng Kông là nhận các thư từ do các nhân viên giao liên của các đảng CS Đông Dương, Mã Lai và Nam Dương đưa tới; sau đó ông chuyển các thư từ đó cho các nhân viên giao liên của CSQT (Cục Viễn Đông). Ngược lại, ông nhận các chỉ thị của Cục Viễn Đông từ tay các nhân viên giao liên của Thượng Hải và chuyển cho giao liên của các tổ chức Cọng sản tại Đông Nam Á.

Một trong số các giao liên với Thượng Hải là Trương Văn Lệnh. NTT đánh máy các văn thư tại nhà riêng là một địa chỉ bí mật. Lúc này ông mang tên là Tống Văn Sơ, và mật danh để liên lạc với Cục Viễn Đông là “Victor”. Do đó Hoàng Tùng nói rằng nhiệm vụ của ông chỉ là một “hòm thư”. Đến tháng 4 năm 1931 sau khi có sự hục hặc với Trần Phú và Ngô Đức Trì thì ông gửi thư cho Bí thư Văn phòng Viễn Đông là Noulens xin được về làm việc tại CVĐ mà Hoàng Tùng gọi là “đề nghị giao việc”, nhưng chưa được chấp thuận thì bị bắt.

Đảng cọng sản Đông Dương đời thứ nhất

( Đảng của Trần Phú &Ngô Đức Trì )

Năm 1930, tháng 6, một số cán bộ của Xứ ủy Bắc Kỳ bị ruồng bắt do ảnh hưởng của vụ nổi dậy của Nguyễn Thái Học đã phải chạy sang Trung Hoa. Đỗ Ngọc Du, Lưu Quốc Long, Nguyễn Lương Bằng chạy sang Hồng Kông gặp Nguyễn Tất Thành. Thành viết giấy giới thiệu cho các ông gặp Lê Quang Đạt là người phụ trách giao liên giữa Hồng Kông và Thượng Hải. Sau đó Đạt sắp xếp cho các ông về sinh sống tại Thượng Hải.

Lê Quang Đạt và vợ là Lý Phương Đức được ĐCS Trung Quốc phân công làm việc cho Cục Viễn Đông tại Thượng Hải, nhiệm vụ chính của hai người là liên lạc viên giữa Cục Viễn Đông tại Thượng Hải và trạm giao liên tại Hồng Kông do Nguyễn Tất Thành phụ trách. Ngoài ra hai người cũng đảm nhiệm đường dây đưa rước cán bộ Việt Nam đi Mạc Tư Khoa hay từ Mạc Tư Khoa trở về.

Năm 1930, ngày 14-6, Đỗ Ngọc Du, Lưu Quốc Long phụ trách in ấn một tờ báo bằng tiếng Pháp, mang tên là L’Armée, phát hành 2 tháng một lần; tờ báo tuyên truyền, kêu gọi công nhân và binh lính Việt Nam đang làm việc cho chính quyền Pháp tại Thượng Hải. Ngoài ra còn có tờ báo bằng tiếng Việt, mang tên là Giác Ngộ, do Lê Quang Đạt, Lý Phương Đức và Nguyễn Lương Bằng phụ trách. Tiền lương của các ông và chi phí in ấn do Cục Viễn Đông/CSQT đài thọ.

Năm 1930, ngày 19-9, Ngô Đức Trì mời Nguyễn Tất Thành, Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lệnh, Nguyễn Trọng Nhã đến gặp 2 đại diện của ĐCS Trung Quốc để cùng nhau bàn chuyện mở đại hội thành lập đảng Cọng sản Việt Nam được Trần Phú triệu tập vào tháng 10. Trong cuộc họp Hồ Tùng Mậu phản đối phong trào nổi dậy của Xô Viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra tại Việt Nam theo như hướng dẫn của Nguyễn Tất Thành. Tuy nhiên 2 đại diện của ĐCS Trung Quốc ngã theo chủ trương của Nguyễn Tất Thành, và Nguyễn Trọng Nhã cũng hoàn toàn đồng ý (Hsltr/Quốc gia Pháp, lời khai của Ngô Đức Trì).

Hồ Tùng Mậu thấy mọi người tán đồng quan điểm của Nguyễn Tất Thành bèn quyết định chấm dứt cọng tác với ĐCSVN. Cuộc họp này là nỗ lực cuối cùng của ông nhằm phản đối sự có mặt của Nguyễn Tất Thành trong tổ chức CSVN. Tuy nhiên kết quả của cuộc họp cho thấy Hồ Tùng Mậu đã thất bại. Như vậy là đã đến lúc ông phải chia tay, ông không thể tiếp tục làm việc với một người mà ông có nhiều nghi ngờ về khả năng cũng như tư cách đạo đức. Sự ly khai của Lê Tán Anh trước đó mấy tháng cũng đã góp phần cho quyết định cuối cùng của ông.

Năm 1930, ngày 14-10, Trần Phú triệu tập đại hội Đảng CSVN tại Hồng Kông, bầu ban chấp hành, Trần Phú là tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội thảo luận về các nghị quyết mới đây của CSQT và soạn thảo phương hướng hoạt động, hủy bỏ các phương hướng mà Lý Thụy đặt ra trong phiên họp thành lập đảng. Đại hội này không có mặt Lý Thụy. Sau đại hội thì Trần Phú mới cùng Lý Thụy đi gặp đại diện CSQT tại Thượng Hải. Đại diện QTCS đề nghị đổi tên đảng là Đảng Cọng sản Đông Dương. Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Trần Phú phát hiện lâu nay Nguyễn Ái Kvak giả danh CSQT để mở cuộc họp thành lập ĐCSVN vào ngày 3-2-1930. Bí thư Cục Đông Phương là Noulens chỉ thị Trần Phú đưa Nguyễn Ái Kvak ra kiểm điểm trước hội nghị Trung ương Đảng.

Năm 1930, ngày 9-12, một cuộc họp nội bộ kiểm điểm công khai các sai lầm của NTT trong việc ông thừa lệnh CSQT họp thống nhất hai đảng mà không có chỉ thị hay tài liệu hướng dẫn của CSQT, ông ta đã tự nghiễn ra phương hướng hoạt động để chỉ thị cho các đại biểu và phạm hàng loạt sai lầm…NTT đã nhận khuyết điểm và hứa sẽ sửa chữa những sai lầm (Hslt/MTK và “Văn Kiện Đảng”, tập 2, 1998). Sau hội nghị Trần Phú dời Tổng bộ ĐCSĐD về Sài Gòn. NTT ở lại Hồng Kông tiếp tục làm việc giao liên cho Vụ Phương Nam của Cục Viễn Đông/CSQT.

Nhiệm vụ của NTT là hộp thư liên lạc giửa ĐCSĐD và Cục Viễn Đông/CSQT tại Thượng Hải. Công việc của ông là nhận, dịch và chuyển thư. Tuy nhiên trong các thư chuyển về CSQT, khi nói về ĐCSVN, ông luôn luôn xưng là “Đảng bộ chúng tôi” tức là có ông trong nhóm đầu não. Nhưng ông lại xúi các Kỳ bộ địa phương gởi báo cáo về thẳng cho ông để ông chuyển về CSQT. Trong báo cáo của các Kỳ bộ ông cũng xưng là “Đảng bộ chúng tôi”, có nghĩa là ông đang chỉ huy các Kỳ bộ, gián tiếp cho MTK biết rằng Trần Phú mang tiếng là Tổng bí thư mà trên thực tế không được trong Đảng coi là người lãnh đạo Đảng.

Năm 1930, tháng 12, Trương Văn Lệnh bị bắt tại Hồng Kông vì hoạt động giao liên cho Cọng sản. Sau đó vì thấy ông chỉ là một giao liên cắc ké nên chính quyền Hồng Kông chỉ trục xuất ông khỏi Hồng Kông. Ông chạy về Quảng Châu và bị chính quyền Tưởng Gới Thạch bắt giam một thời gian, sau khi được thả thì ông chạy về Thượng Hải sống trong cộng đồng Việt Nam tại tô giới Pháp.

Năm 1931, ngày 12-3, đại hội trung ương lần hai họp tại Sài Gòn, có một đề mục được nêu ra là “Dấu hỏi về Lý Thụy”. Ngô Đức Trì than phiền NTT đã làm sai nguyên tắc khi thúc hối các Kỳ bộ phải gởi báo cáo thẳng cho ông ta mà không cho các Kỳ bộ tham khảo với Trần Phú hay Ngô Đức Trì (Hsltr/MTK).

Năm 1931, ngày 17-4, trước khi bị bắt, Trần Phú gởi cho CSQT bức thư liên lạc cuối cùng, trong thư tố cáo NTT giả danh CSQT tổ chức đại hội thống nhất (3-2-1930) mà không có lệnh của CSQT. Ngoài ra Trần Phú yêu cầu CSQT không giao cho NNT nhiệm vụ thông tin liên lạc giữa ĐCSĐD với CSQT bởi vì ông có cái tật biến các chỉ thị của CSQT thành ý kiến của mình trước khi chuyển cho ĐCSĐD. Ngược lại ông ta bắt các Kỳ bộ gửi báo cáo thẳng cho ông ta mà không thông qua trung ương ĐCSĐD (Hslt/MTK).

Cũng trong bức thư cuối cùng này, Trần Phú đã quy lỗi cho NTT trong phương hướng hành động sai lầm mà ông đã phổ biến cho các thành viên trong cuộc họp thống nhất đảng ngày 3-2-1930, ông viết : “Kết quả của hội nghị thống nhất này giống như thời kỳ hợp tác giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cọng sản Trung Quốc. Chỉ chủ yếu phản ánh một chính sách hữu khuynh trong Đảng Cọng sản Trung Quốc từ năm 1925 đến 1927…”, “Chúng tôi lưu ý các đồng chí đến tình huống này, không phải với mục đích chỉ trích đồng chí Kvak, mà chỉ để nhắc nhở các đồng chí về việc đảng Cọng sản Đông Dương thống nhất đã ra đời như thế nào và chỉ để chứng tỏ nó đã sai lầm cho Đảng của chúng tôi ngay cả cho đến nay…”.

Năm 1931, ngày 21-4, Cảnh sát Pháp tại Thượng Hải bắt Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Ngọc Du, Lê Quang Đạt và Lý Phương Đức, tất cả bị giải về Việt Nam vì tội hoạt động cho Cọng sản Việt Nam. ( Tô giới Pháp tại Thượng Hải là một nhượng địa của Trung Hoa nhượng cho Pháp nên chính quyền tại đây do người Pháp đảm nhận ). Cũng trong thời gian này Hồ Tùng Mậu bị bắt tại Hồng Kông nhưng sau đó được thả vào cuối tháng 6 và bị trục xuất khỏi Hồng Kông.

Năm 1931, ngày 23,24,25 tháng 3, Joseph Duroux, cán bộ của CSQT đến Sài Gòn tiếp xúc với 2 lãnh tụ của ĐCSĐD. Ông đề nghị ĐCSĐD nên mở đường giây giao liên sang Singapore đồng thời cho biết rằng NAQ có gởi thư cho Noulens, là bí thư của Cục Viễn Đông, để xin được vào làm việc trong Cục Viễn Đông, khỏi phải làm việc trực tiếp với ban lãnh đạo CSĐD vì họ đang có ý nghĩ không tốt về ông ( Hsltr/Văn khố quốc gia Hoa Kỳ/ Hồ sơ vụ án Noulens / Tài liệu của mật thám Pháp tại Đông Dương gởi cho mật thám Pháp tại Thượng Hải. Có lẽ 2 lãnh tụ CSĐD là Trần Phú và Ngô Đức Trì ).

Năm 1931, tháng 4, Joseph Ducrox bị bắt tại Singapor với quyển sổ tay ghi các địa chỉ mà ông từng liên lạc. Từ đó cảnh sát Anh, Mỹ, Pháp phăng ra các tổ chức Cọng sản trong toàn vùng Đông Á. Tại Sài Gòn Ngô Đức Trì bị bắt ngày 1-4 cùng với toàn bộ Xứ ủy Nam Kỳ. Ngày 15 tháng 4 trụ sở bộ chỉ huy Trung ương đảng bị khám phá, Trần Phú thoát được nhưng sau đó lại bị bắt tại miền Trung ngày 19-4. Cơ sở in ấn bí mật của Bùi Lâm cũng bị khám phá, Bùi Lâm bị bắt cùng với nhiều đảng viên khác. Toàn khu vực Nam kỳ chỉ có một đảng viên trẻ chạy thoát sang Hồng Kông để báo cho Lý Thụy. Tại Hồng Kông, “một đồng chí liên lạc viên” của Lý Thụy bị bắt ngày 29-4.

* Chú giải: Sau này có người đoán đồng chí liên lạc này là Nguyễn Thị Minh Khai nhưng điều này không đúng vì lúc đó bà Minh Khai đang ở trong nhà lao Hải Phòng và trong đời bà chưa có lần nào làm việc chung với HCM. Sở dĩ có chuyện cho rằng người liên lạc viên đó là Minh Khai vì trong hồ sơ vụ Noulens có một bức thư của Victor, tức NTT, báo cho Noulens biết rằng Trần Phú đã bị bắt tại Sài Gòn và một liên lạc viên của NTT vừa mới bị bắt tại Hồng Kông ngày 29-4. Bức thư này được sử gia Duiker khám phá và công bố năm 1990. Lúc đó ông Duiker đã khám phá ra Victor là HCM nhưng ông không biết người liên lạc viên là ai. Nhưng tới khi sử gia Quinn Judge đọc được hồ sơ này thì nghĩ rằng đó là Minh Khai, căn cứ theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyệt Tú, xuất bản tại Hà Nội năm 1976.

sản trong toàn vùng Đông Á. Tại Sài Gòn Ngô Đức Trì bị bắt ngày 1-4 cùng với toàn bộ Xứ ủy Nam Kỳ. Ngày 15 tháng 4 trụ sở bộ chỉ huy Trung ương đảng bị khám phá, Trần Phú thoát được nhưng sau đó lại bị bắt tại miền Trung ngày 19-4. Cơ sở in ấn bí mật của Bùi Lâm cũng bị khám phá, Bùi Lâm bị bắt cùng với nhiều đảng viên khác. Toàn khu vực Nam kỳ chỉ có một đảng viên trẻ chạy thoát sang Hồng Kông để báo cho Lý Thụy. Tại Hồng Kông, “một đồng chí liên lạc viên” của Lý Thụy bị bắt ngày 29-4.

* Chú giải: Sau này có người đoán đồng chí liên lạc này là Nguyễn Thị Minh Khai nhưng điều này không đúng vì lúc đó bà Minh Khai đang ở trong nhà lao Hải Phòng và trong đời bà chưa có lần nào làm việc chung với HCM. Sở dĩ có chuyện cho rằng người liên lạc viên đó là Minh Khai vì trong hồ sơ vụ Noulens có một bức thư của Victor, tức NTT, báo cho Noulens biết rằng Trần Phú đã bị bắt tại Sài Gòn và một liên lạc viên của NTT vừa mới bị bắt tại Hồng Kông ngày 29-4. Bức thư này được sử gia Duiker khám phá và công bố năm 1990. Lúc đó ông Duiker đã khám phá ra Victor là HCM nhưng ông không biết người liên lạc viên là ai. Nhưng tới khi sử gia Quinn Judge đọc được hồ sơ này thì nghĩ rằng đó là Minh Khai, căn cứ theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyệt Tú, xuất bản tại Hà Nội năm 1976. Sử gia Quinn Judge đã bị lầm khi căn cứ vào tiểu thuyết như một chứng liệu lịch sử.

BÙI ANH TRINH

Rate this:

0
0
Rate This

Liên kết với:

Like this:

Post navigation

One thought on “NGUYỄN TẤT THÀNH TỪ THÁI LAN TRỐN SANG HỒNG KÔNG”

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG HUNG THẦN MẬU THÂN HUẾ 1968

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT), tôi phải gọi hắn là hung thần Mậu Thân Huế 68 hay tay đao phủ thủ thành Nội năm xưa, vẫn bị hàng ngàn nạn nhân Mậu Thân Huế oan khiên gọi hồn y. Theo thuyết nhà Phật thì sự sống của chúng sinh giữa sinh và diệt cách nhau vài sát na. HPNT đã trải qua ngưỡng cửa sát na sinh diệt, nhưng sổ thông hành Diêm Vương chưa chính thức email cho y.

Ngày 16-6-1998 y lâm phải chứng đột quị lần đầu tại Đà Nẵng, bị hôn mê, coma 2 tháng, may mắn sống sót, nhưng yếu xìu có điều như cọng bún thiu, phải nằm một chỗ. Đến năm 2008, tức 10 năm sau y nhập viện lần thứ 2, lục phủ ngũ tạng của y be bét, theo hồ sơ bịnh lý thì ngoài chứng bịnh “xì-trốc”, hay chứng tai biến mạch máu não, mạch máu não vỡ nát te tua khiến y không đi được, chỉ ngồi lăn xe, dáng dấp hom hem trông dễ sợ như hồn ma gọi vể.

Theo vợ y, Lâm Thị Mỹ Dạ tiết lộ HPNT đang ngồi tiếp bạn bè, lúc 3 giờ chiều ngày 5/11/2008, bụng y bị chương cứng sưng to như bánh phồng trông dễ sợ, nôn mữa ra máu đen mấy lần. Y được đưa đến một y viện nhỏ cấp cứu. Sang ngày sau y được chuyển sang Bệnh viên Trung Ương ở Huế, tại đây y ngưng chứng nôn dạ, nhưng lại tiểu ra máu đen ngòm khó xem lâu. HPNT còn mang các thứ bịnh nan y khác như tiểu đường, suy thận, bệnh huyết áp cao cấp tenor, bệnh cao mỡ khá nặng, bịnh gan nhiễm mỡ,… Kiểu này chắc tuổi thọ của y sẽ khiêm nhường mà thôi.
Đó là con ma Hoàng Phủ, một trí thức theo hệ phái do Mao ”lăng-xê” cấp huân chương cao quí, một giáo sư, một công tử xứ Huế dù nhan sắc có phần kém mặn mòi, xin xem hình đính kèm.

Trong biến cố Thảm sát Mậu Thân tại Huế, HPNT là tay sát thủ có máu lạnh khét tiếng, vì y giết người không gớm tay. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, cùng Nguyễn Đắc Xuân tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” gây nhiễu nhương hỗn loạn, tạo hoang mang tinh thần người dân xứ Huế, sau đó HPNT trốn vào bưng biền a tòng theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” và chiêu dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa, ngược lại người dân bỏ phiếu bằng chân trốn sang các khu vực có QLVNCH như Tiểu Khu Thừa Thiên, Phú Bài, Mang Cá, Bến Tàu, Trường Kiểu Mẫu,…

Chính tinh thần bất hợp tác của người dân Huế, bọn VC và tay sai đã thẳng tay tàn sát dân quân VNCH tại Huế vô tội vạ. Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và đồng minh phản công dữ dội, ngày 07-02-1968 VC giựt sập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cộng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC phải tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bất lợi cho quân VC nên chúng đành tháo chạy lui binh. Ngày 23-0-68 quân VC bị đẩy ra khỏi Huế, cờ vàng VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú Văn Lâu. Tính chung cộng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu vực đông dân là Gia Hội, theo những con số thống kê về hài cốt đào xới tìm được trong một số mồ chôn tập thể sau khi giặc bị đánh bật ra khỏi thành phố, tại các địa điểm định vị được là khoảng 2500 xác.

Những mồ chôn khác, hay mất tích không kiểm kê được. Giở trang sử cũ trong cuộc chiến Mậu Thân đã giết hại hàng chục ngàn người trên toàn quốc và chỉ riêng tại Huế bọn giặc ác ôn đã dã man chôn sống hàng ngàn đồng bào vô tội, bọn súc sinh ác quỉ có máu lạnh như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa,… mang nợ máu với người dân Huế, nếu người dân Huế không hành hình được chúng, nhưng theo qui luật của luật thiên nhiên trời đất khi gây nhân sẽ hái quả mà thôi.

Tên hung thần Mậu Thân Huế 68 hay tay đao phủ thủ thành Nội năm xưa HPNT lãnh y án nhiều chứng bịnh, rồi đây sẽ đi đong. Cái chế độ mà chúng còng lưng cúc cung, quì lụy đang rung rinh giao động như lắc twist again, thì những loại tay sai HPNT với mạng sống như chỉ treo mành. Xin mời quí ông bà, quí bà con cô bác, quí ACE hãy xem bài kỷ niệm Mậu Thân có tên hung thần ác quỉ “xì-trốc” HPNT do nhà văn Huy Phương viết dịp Tết 2011, gợi nhớ Tết 1968 với ký ức u buồn khôn nguôi. Xin mời bài Huy Phương, kế tiếp là bài Hoàng Hải Thủy, cùng chủ đề…
VHLA

HUY PHƯƠNG
THẢM SÁT MẬU THÂN 1968
và luận điệu gian dối
của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường, người lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!
Vào những ngày đầu năm Âm Lịch ở Little Saigon, khi không khí những ngày Tết hải ngoại còn vướng vất đâu đây, tôi nhận được qua điện thư một đoạn phim (chưa edit) trong loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer). Chúng ta cũng đừng quên rằng trong thời gian Tết Mậu Thân, Tường là Tổng Thư Ký của “Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình” do Lê Văn Hảo làm chủ tịch.
Để trả lời câu hỏi: “Ông có thể mô tả biến cố về cuộc nổi dậy tại Huế và đặc biệt liên quan đến cuộc thảm sát từ khi ông có mặt tại đây”, Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) đã trả lời vòng vo, ấp úng trong 12 phút với một luận điệu gian dối, vu vạ, sai sự thật một cách đáng khinh bỉ. Là một người lính có mặt ở Huế trong 21 ngày Cộng Sản chiếm cứ cố đô, sau đó, với tư cách phóng viên báo chí, đã trở lại đi theo những chuyến đào mộ tập thể, cũng như đã có dịp phỏng vấn nhiều nhân vật liên quan đến vụ thảm sát ở Huế, như ông Võ Văn Bằng, Chủ tịch Uỷ Ban Truy Tầm & Cải Táng Nạn nhân CS Mậu Thân, tôi thấy cần phải viết một vài dòng về bộ mặt và tâm địa độc ác của một “người” mang danh trí thức Cộng Sản như HPNT.

Điều phải nói trước tiên là Tường đã nói dối khi phủ nhận sự có mặt của y trong những ngày bộ đội CS vào Huế. Về sau này, trước dư luận và sự tấn công của báo chí hải ngoại, qua các nhân chứng xác nhận HPNT hiện diện tại Huế ngay trong các vụ xử án trong vùng Gia Hội, Tường đã chối rằng trong những ngày này, y đang ở trong khu an toàn trên núi. Chính câu hỏi của phóng viên đài truyền hình ờ đầu bài đã xác nhận sự thật, vì nếu Tường không có mặt ở Huế, sẽ không có cuộc phỏng vấn này cũng như nội dung câu hỏi được đăt ra ở trên.

Mặt khác, sau này chính y không nhớ là mình đã thú nhận chuyện có mặt ở Huế vào phút thứ 6 của đoạn phim này, vào năm 1982, khi Tường mô tả chuyện y đang đi trong những con đường hẻm vùng Đông Ba và đã nói những câu “khi chúng tôi rút lui” hay “tôi là một chứng nhân” nghe rất rõ ràng.
Câu nói vào đề của Tường là vụ thảm sát ở Huế “do chính Mỹ gây ra” nhưng lại đổ cho tội lỗi của “cách mạng”, và xem đây như là một bửu bối để đưa ra trước cuộc hoà đàm Paris để bôi nhọ “Cách Mạng Việt Nam”.

Để nói về những người bị giết, Tường cho biết, trong số đó hiển nhiên là “có một số người” do du kích và “quân đội cách mạng” thi hành bản án tử hình tại chỗ, vì căm thù đã lâu, bị tra tấn, cả gia đình phải đi ở tù, và khi cách mạng bùng lên, họ (CS) lấy lại được thế của người mạnh, nên phải giết. Mặt khác đây là những tên ác ôn đã từng giết nhiều gia đình cách mạng, có khi cả nhà 10 người, nay “cách mạng” chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng. Chính những người chỉ huy của cách mạng không thể kiểm soát nổi họ, và chính họ (cấp dưới) đã thi hành bản án đối với kẻ thù của mình.
Sau khi cho rằng “khối lớn người chết đã làm nên những nấm mồ, đã được Mỹ Nguỵ quay phim và đưa ra công luận”, Tường đã lớn tiếng đặt câu hỏi: “Những xác chết nằm ở dưới đó là ai?” và tự giải thích:
1. Nhân dân đã bị bom Mỹ trong các đợt phản kích chiếm lại Huế. Tường dẫn chứng Mỹ đã thả bom một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba (?), “đúng” 200 người vừa chết vừa bị thương. Trong đêm tối y đã đi trên những đường hẽm, lội trong một vũng lầy, mà y tưởng là bùn, nhưng khi rọi đèn pin lên thì đó toàn là máu lầy lội, và trong những ngày “chúng tôi rút ra” thì chúng nó (Mỹ hay Nguỵ) đã gom lại và đem đi chôn.

Dân chúng Huế đã hiểu đây quả là một điều dối trá, và nhờ câu nói này chúng ta biết rằng, người Cộng Sản thường lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh.
2. Hằng loạt gia đình có con em tham gia cách mạng, đi lên rừng sau Mậu Thân thì chúng (Nguỵ) đã bắn chết và cũng chôn vào trong những hố đó.

3. Xác của quân giải phóng mà chúng tôi không kịp mang theo thì cũng được chôn vào đó.
4. Có những đoàn thanh niên và thường dân bị lưu giữ, mà chúng tôi không hề có ý định giết nhưng vì đi thành một đám đông nên bị máy bay Mỹ cương quyết tìm cách tập kích vào để không còn ai có thể sống sót, chết nằm ở bìa rừng, kể các các cán bộ, binh sĩ hộ tống đoàn người đó cũng bị chết luôn. (Luận cứ này đã dược Bùi Tín lặp lại trong một lần trả lời báo chí năm 2007.)
5. Ba năm sau 1975, chúng tôi đi làm thuỷ lợi đã đào được những hầm gọi là “thảm sát Mậu Thân” mà trong đó đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng.
Để kết luận, Tường cho đây là sự ranh mãnh của thực dân mới, bắn một mũi tên được hai mục tiêu: che dấu tội ác đã làm và đổ tội tất cả cho quân giải phóng. Một cách thiếu luận cứ, Tường cho rằng “thảm sát mậu Thân” là một kế hoạch tuyên truyền rất lớn có tính cách chiến lược do Kissinger đề ra và nước Mỹ đã tốn một ngân sách rất lớn để dùng cho vấn đề gọi là Mậu Thân ở Huế.
Sau khi chối quanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở lại nói rằng đối với những người mà nhân dân đã thi hành bản án là lẽ đương nhiên vì lòng căm thù, và khi đối diện với kẻ thù, trước họng súng, “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi, thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.

Tường cho rằng chiến dịch “Thảm Sát Mậu Thân” do chính quyền Mỹ bịa ra, dựng lên để “đổi trắng thay đen” và để “lừa bịp nhân loại”.
Chúng ta, đồng bào Huế, gia đình các nạn nhân và nhất là các phóng viên báo chí quốc tế đã có mặt trong những ngày đào mộ và cải táng những nấm mồ tập thể tại Huế sau Tết Mậu Thân, và căn cứ vào danh sách nạn nhân, cách giết người, cách trói người trong các hầm tập thể, đã thấy những lời nói của HPNT là gian dối.

Trong các hố chôn tập thể này chúng ta đã tìm thấy thi thể các giáo sư y khoa người Đức, các giáo sư trung học, các vị linh mục, sư huynh, tu sĩ, sinh viên, học sinh, công chức, quân nhân và cảnh sát không vũ khí, y tá, học sinh, thường dân… đầu bị bể nát hay thủng vì vết đạn, bị trói xâu chùm bằng giây điện thoại, thép gai, giây lạt tre.

Phải chăng họ là những tử thù của các đồng chí của HPNT? Và trong 22 hầm chôn tập thể được khám phá không hề có một đôi dép râu, cái nón cối hay cái mũ tai bèo nào. Chúng ta nếu muốn lên án hay đổ lỗi cho Cộng Sản cũng không thể nguỵ tạo hay che dấu được điều gì trước sự quan sát của các phái đoàn quốc tế đến Huế. Bản chất “đổi trắng thay đen” để “lừa bịp nhân loại”, dối trá, vu vạ là những đòn chính trị lâu đời của Cộng Sản, mà những tên học trò tay mơ như HPNT không thể qua mặt được ai.

Trong phần cuối của cuốn phim, HPNT đã lên án chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mặc dù không liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân, chúng tôi nêu ra đây, để thấy thêm sự xảo trá, quá quắt của y.
Thứ nhất, y nói rằng “hằng năm đến ngày Tết, tất cả giáo sư đại học, trí thức, nguỵ quyền, đều phải mặc “áo xưa” (ý y muốn nói đến áo thụng) đến quỳ ở trước sân để tung hô chúc thọ, mừng tuổi cho cả gia đình họ Ngô kể cả Ngô Đình Diệm ngồi trên những cái ngai vàng.” Thứ hai, muốn loại những ảnh hưởng của cách mạng tháng 8 ngay trong thành phố này (Huế), “những gia đình có con đi tập kết ra Bắc lần lượt bị tù đày và bị tra tấn.” Thứ ba, với “những gia đình có chồng đi tập kết để lại một đứa con ở trong bụng thì chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài (sic)!

Người viết bài này và HPNT đều là công chức dưới thời TT Ngô Đình Diệm (năm 1966 Tường mới ra bưng), bản thân Tường và Tường có thấy tôi đến quỳ trước sân nhà ông Ngô Đình Điệm ở Phủ Cam không?
Về chuyện gia đình tập kết, một người bạn chung mà chắc Tường không thể không biết, là Tôn Thất Lan có cha đi tập kết, sau 1975 mới về. Lan và người em trai đều tốt nghiệp Y Khoa, Tôn Thất Lan nguyên là Thiếu Tá Quân Y phục vụ tại Long An, sau 1975 ở lại tiếp tục hành nghề ở Saigon . Em của Lan vượt biên sang Mỹ hiện làm việc tại Quận Cam. Ở miền Nam ai cũng biết, ông Dương Văn Minh và ông Trần Ngọc Châu đều có em trai đi tập kết theo Cộng Sản, mà người làm đến Tổng Thống, người là Tỉnh Trưởng rồi Dân Biểu. Vậy mà ở miền Bắc, HPNT nói điều này ra chắc cũng có người tin, mới biết chính sách tuyên truyền của Cộng Sản điêu ngoa, chà đạp lên sự thật đến dường nào.

Lâm Thị Mỹ Dạ, vợ Hoàng Phủ Ngọc Tường

Điều cuối, ghê tởm nhất là Tường vu cáo những người đàn bà mang thai có chồng đi tập kết bị chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài. Trước hết, sự thật, nếu HPNT dẫm lên bụng một người đàn bà mang thai, cái thai có văng ra ngoài được không? Trong thành phố Huế này, nơi mà tôi và HPNT đã lớn lên dưới thời Vua Bảo Đại, qua thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà, có ai nghe, chứ chưa nói đến chuyện thấy hành động độc ác, chỉ có trong trí tưởng tượng của những con người Cộng Sản, và dùng nó để tuyên truyền cho đám dân ngu dưới chế độ CS Bắc Việt, chứ ở miền Nam, nói chuyện này, ai tin!

Người xưa gọi thái độ này của HPNT là “ngậm máu phun người” (hàm huyết phún nhân), và dân Huế có câu “nói mà không sợ cây nó mọc trong họng,” nôm na đặc sệt Huế nhất lại có thành ngữ “một lời nói là một đọi (bát) máu!”

Người trí thức phải đặt sự thật lên tất cả phe phái, không uốn lưỡi vì danh lợi, phải “yêu ai thì nói rằng yêu, ghét ai thì bảo rằng ghét.” như Phùng Quán, đừng vì sợ hãi, lập công trạng mà bỏ sự thật. Muốn có một xã hội tốt đẹp không cần phải đào tạo con người theo “mô hình xã hội chủ nghĩa” mà phải đào tạo những con người chân thật, biết yêu sự ngay thẳng, ghét điều gian trá. Những con người tự nhận là nghệ sĩ, trí thức XHCN như HPNT sẽ đưa đất nước này càng ngày càng đi vào con đường tồi tệ. Những ai là người dân Huế một thời với HPNT, những ai đã sống và biết đến tấn thảm kịch Mậu thân, sẽ phải đau lòng và cũng buồn cười trước những lời phát biểu của HPNT.
Tường ơi! Huế oan khuất, đau đớn lắm. Mi phải trả giá những gì mi đã tạo ra, nghiệp khẩu và hành động đã đưa mi đến tình cảnh ngày hôm nay. Đã đến lúc ăn năn, hối lỗi đi là vừa, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”
(1) Xin rõ thêm chi tiết xin vào: http://openvault.wgbh.org/catalog/org.wgbh.mla:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s