Hoàng Sa : 40 năm sau nhìn lại (Thông Luận tuyển chọn)

Hoàng Sa

Thongluan

“…Từ năm 1954 đến năm 1974, bằng con đường ngoại giao, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có nhiều cố gắng để công luận quốc tế biết rõ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trên cơ sở phân tích nhiều góc độ khác nhau như  địa lý, lịch sử, quản lý hành chính…”

LTS : Chúng tôi đang lại sau đây những bài viết về cuộc hải chiến Hoàng Sa 40 năm về trước. Và đồng thời xin giới thiệu trở lại tập tài liệu Hải Quân VNCH Ra Khơi – 1975 do bà Điệp Mỹ Linh đã công phu soạn thảo. Rất mừng là hiện nay những gương chiến đấu và hy sinh của những chiến sĩ Việt Nam đã được cả nước nhìn nhận và tôn vinh. Đây là bước khởi đầu của một tiến trình hòa giải và hòa hợp dân tộc mà từ lâu Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã cổ võ và mong muốn tinh thần đó được hình thành và phát triển trong xã hội Việt Nam. Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong những ngày đầu của năm 2014. Hy vọng tinh thần hòa giải và hòa hợp sẽ là kim chỉ nam hướng dẫn mọi người Việt Nam nhận diện lại quyền lợi và lòng yêu nước. Nguyễn Văn Huy

***

Bốn mươi (40) năm hải chiến Hoàng Sa qua góc nhìn ngoại giao (Võ Hà – Viết Hảo)

Chính quyền Sài Gòn bằng cách này hoặc cách khác đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lên án Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam sau sự kiện 19/1/1974.

Các nhà nước Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến nay đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như những vùng biển đảo khác trong Biển Đông. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý quốc tế khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo này ; là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu, quản lý 2 quần đảo một cách liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Trong thời gian 1954-1975, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam được đặt dưới quyền quản lý của chính quyền đương thời Việt Nam Cộng hòa. Ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, Chính quyền Sài Gòn bằng cách này hoặc cách khác đã mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời lên án Trung Quốc trước cộng đồng quốc về hành động này.

Chỉ còn ít ngày nữa là kỷ niệm 40 năm sự kiện hải chiến Hoàng Sa, Dân trí xin giới thiệu những hoạt động đấu tranh ngoại giao trong thời gian này, đặc biệt vào những thời điểm tranh chấp cụ thể khi Trung Quốc có những hành động chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

bonchienhamvnch
Bốn chiến hạm của Việt Nam Cộng hòa chiến đấu bảo vệ
Hoàng Sa năm 1974. (Ảnh : Tư liệu)

Đấu tranh ngoại giao trước hải chiến Hoàng Sa 1974

Từ năm 1954 đến năm 1974, bằng con đường ngoại giao, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có nhiều cố gắng để công luận quốc tế biết rõ chủ quyền của Việt Nam đối vớiquần đảoHoàng Savà Trường Sa,trên cơ sở phân tích nhiều góc độ khác nhau như : địa lý, lịch sử, quản lý hành chính…Hoạt động thể hiện rõ nét nhất qua việc sử dụng các diễn đàn quốc tế để lên tiếng về Hoàng Sa và Trường Sa ; cung cấp sử liệu, chứng cứ cho các hãng thông tấn trong và ngoài nước ; ban hành Sách Trắng bằng song ngữ, ra các thông cáo, tuyên cáo ngoại giao… đối với phần lãnh thổ này, theo quy định của công pháp quốc tế.

Trên lĩnh vực thuyền thông, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòakhông ngừng cung cấp thông tin một cách kịp thời, xác thực để khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Cụ thể, ngay sau khi phát hiện Trung Quốc lén lút chiếm đảo Phú Lâm vào năm 1956, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã cung cấp thông tin cho các cơ quan ngoại giao, các hãng thông tấn, báo chí quốc tế nhằm khẳng định tính hợp pháp và sự phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngày 1/2/1957, Trung Quốc lại lên tiếng đòi sở hữu 2 quần đảo Spratley và Paracels. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa liền ra thông cáo ngày 18/2/1957 nhắc lại quan điểm của Việt Nam là 2 quần đảo trên thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Chính phủ và Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa khá khôn khéo và cương quyết trong việc giải quyết tranh chấp về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đối với Trung Quốc, nước càng ngày càng bộc lộ rõ dã tâm chiếm đoạt trái phép Hoàng Sa, chính quyền Việt NamCộng hòa bắt giữ và trục xuất ngư dân, quân đội giả dạng ngư dân đổ bộ lên Hoàng Sa, sử dụng diễn đàn ngoại giao trong mọi điều kiện để phủ nhận, lên án những đòi hỏi phi lý của Trung Quốc hay gửi công hàm phản đối…

Đầu những năm 1970, khi quan hệ giữa các nước lớn có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng phức tạp, sự tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bắt đầu trở nên quyết liệt.

Tại các diễn đàn Quốc tế về lãnh hải, lãnh thổ, các hiệp ước song phương, đa phương… chính quyền Việt Nam Cộng hòa thường tranh thủ để khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của mình tại Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này được thể hiện rõ qua tuyên bố của các ông Trần Văn Hữu, Vũ Văn Mẫu, các Bộ trưởng Bộ ngoại giao và đại diện các sứ quán Việt Nam Cộng hòa trên khắp thế giới lúc bấy giờ.

Cụ thể, ngày 13/7/1971, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cộng hòa Trần Văn Lắm có mặt tại Hội nghị lần thứ VI của Hiệp hội các Quốc gia châu Á-Thái Bình Dương ở Manila (Philippines) đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tiếp đó, Nha Thông tin báo chí Bộ Ngoại giao đã ra Thông báo số 214/BNG/TTBC/TT ngày 15/7/1971 về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Nội dung tuyên bố nêu rõ : “Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa long trọng xác nhận lại một lần nữa chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.Thật vậy, trên căn bản lịch sử và pháp lý, chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên hai quần đảo này đã được thể hiện từ nhiều thế kỷ nay… Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố Việt Nam Cộng hòa có chủ quyền hoàn toàn trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và bác bỏ tất cả các đòi hỏi của bất cứ một quốc gia nào về vấn đề này” (1).

Dường như đoán được ý đồ của Trung Quốc trong việc đánh chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn liên tiếp chỉ trích, ra các tuyên bố, gửi công hàm, văn kiện ngoại giao cho Trung Quốc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này.

Đấu tranh ngoại giao sau hải chiến Hoàng Sa 1974

Ngày 11/1/1974, khi Trung Quốc tuyên bố mạo nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của mình, chiều 15/1/1974, trước đông đảo đại diện báo chí trong nước và ngoài nước, Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc đã lên tiếng tố cáo trước quốc dân và quốc tế về việc Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 16/10/1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa ra Tuyên bố về việc Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. “Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại giao Trung Cộng bỗng nhiên lên tiếng mạo nhận chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng hòa. Ngay ngày hôm sau phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã bác bỏ sự đòi hỏi vô căn cứ đó.

Trước những sự vi phạm thô bạo đó, Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa rất công phẫn và quyết không dung thứ. Sự kiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa là một sự kiện hiển nhiên và không thể chối cãi được, căn cứ trên những dữ kiện địa lý lịch sử và pháp lý quốc tế” (2).

Sau vụ hải chiến Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa liên tiếp ra các tuyên bố, đề nghị lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc và kêu gọi các nước, lực yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ chủ quyền chính đáng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 20/1/1974, sau khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa, lập tức Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã gọi điện và gửi thư cho Chủ tịch Hội đồng Bảo an và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết, trước tình hình khẩn cấp này và nêu rõ hành động Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ViệtNam Cộng hòa, đã vi phạm Điều 2 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Trước các hành động đó, các nước như Liên Xô, Hà Lan, New Zealand, Indonesia…, các tổ chức quốc tế như Tổng Liên đoàn Lao động thế giới, các lực lượng thanh niên Italia, Hội đồng công dân Australia, Viện Nghiên cứu xã hội Australia, Ủy ban Đại học Australia bảo vệ Đông Dương… đã lên tiếng phản đối hành động xâm lược lãnh thổ bằng vũ lực của Trung Quốc. Trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố lập trường của mình rằng : “… các nước có liên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt, và giải quyết bằng thương lượng”.

Ngày 21/1/1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã gửi công hàm cho các thành viên ký kết định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam, để tố cáo Trung Quốc xâm phạm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam và khẩn thiết kêu gọi các đoàn thể luật gia trên thế giới tích cực trợ giúp Việt Nam Cộng hòa trong việc tái lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 14/2/1974, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã raTuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về chủ quyền trên những hòn đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng hòa.

Tuyên cáo khẳng định: “Chừng nào còn một hòn đảo thuộc phần lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình” (3).

Ngày 30/3/1974, tại Hội đồng Kinh tài Viễn Đông ở Colombia, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa tiếp tục công bố văn kiện ngoại giao khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

“Việt Nam Cộng hòa không đi tìm một cuộc chiến tranh với Trung Quốc hay bất kỳ một quốc gia nào khác. Bởi vậy không có vấn đề thành lập hoặc tìm cách thành lập một liên minh quân sự với một số quốc gia để chống lại các quốc gia khác… Tuy nhiên, tại Hoàng Sa hay bất kỳ một nơi nào, Chính phủ và nhân dân phải bảo vệ lãnh thổ ; Việt Nam Cộng hòa có chủ quyền trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam Cộng hòa không có ý định chia sẻ chủ quyền các đảo này ; Việt Nam Cộng hòa lúc nào cũng sẵn sàng theo phương thức thương nghị ôn hòa để giải quyết tranh chấp quốc tế.

Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa trân trọng kêu gọi các Thành Viên đặc biệt lưu ý đến điều 1 của Hiệp định Paris và điều 4 của định Ước của Hội Nghị Quốc Tế Paris, cả hai đều long trọng công nhận rằng sự bất khả phân lãnh thổ của Việt Nam phải được tích cực tôn trọng bởi mọi Quốc Gia và bởi các Thành Viên của Định Ước.” (4).

Ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên bố về việc ra mắt “cuốn sách trắng” với đầy đủ dữ kiện chứng minh chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhờ những hoạt động mạnh mẽ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa,trong năm 1974, Hộiđồng bảo an Liên Hiệp Quốcđã thông qua Nghị quyết 3314 định nghĩa về hành vi xâm lược bằng vũ lực.Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lúc này là tiến sĩ G.J. Facio (cũng là Ngoại trưởng Costarica), sau khi được Việt Nam Cộng hòa thông báo nội tình và thể theo lời yêu cầu, trước đó (25/1/1974), ông đã mở một cuộc tham khảo sôi nổi vào ngày và đề nghị đưa vụ Hoàng Sa vào Nghị trình của Hội đồng Bảo an.

Tuy việc triệu tập một phiên họp của Hội đồng Bảo an không thành vì Trung Quốc là hội viên thường trực có quyền phủ quyết. Nhưng Việt Nam Cộng hòa đã đạt được thắng lợi ngoại giao đáng kể.

Như vậy, trong từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dù tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam có nhiều biến động,song chính quyền Việt Nam Cộng hòavẫn kiên quyết đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia tại quần đảo Hoàng Sa.

Và, trên trường ngoại giao Quốc tế, Việt Nam có đầy đủ tính pháp lý và lịch sử lâu đời về chủ quyền đối với 2 quần đảoHoàng Sa, Trường Sa ;phần chính nghĩa, sự ủng hộ của Quốc tế đối với Việt Nam vẫn là dòng chủ lưu.

Võ Hà – Viết Hảo

(1). Công văn số 394-HC/3M ngày 31/01/1964 gửi Tổng trưởng Bộ Nội vụ tại Sài Gòn về tình trạng hiện hữu của đảo Hoàng Sa

(2). Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về việc Trung Cộng vi phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sangày 16/01/1974.

(3). Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về chủ quyền trên những hòn đảo ở ngoài khơi bời biển Việt Nam Cộng hòa ngày 14/02/1974.

(4). theo Bộ Dân vận Sài Gòn (1974), “Hoàng Sa lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa”, Sài Gòn.

***

Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Nguyễn Hùng Cường)

Chỉ một tuần sau chuyến công du của Ngoại trưởng Henry Kissinger, thấy rõ ý định “bỏ rơi” của Mỹ cũng như các điều kiện bất lợi với Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc đã điều chiến hạm ra cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra – hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa – một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ.

Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), đã có bài viết tái hiện những sự kiện chính diễn ra trước, trong và sau trận hải chiến :

Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nướcViệt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.

Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam.

Trung Quốc luôn coi biển Đông, đặc biệt là các quần đảo của Việt Nam là bàn đạp quan trọng để thực hiện chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á. Vì vậy, giới cầm quyền Trung Quốc từ Trung Hoa Dân Quốc cho đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không ngừng đẩy mạnh thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông.

Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh và việc giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945, Trung Hoa Dân Quốc đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) vào cuối năm 1946. Sau đó Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi Hoàng Sa, và Nhật rút quân khỏi quần đảo này theo Hòa ước San Fransisco 1951. Sau khi Hiệp định Geneva 1954 được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 21/1/1956 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lin Côn.

Năm 1974, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ này xuất phát từ tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước.

Đầu thập niên 1970, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên thế giới khiến Mỹ ngày càng xa lánh Việt Nam Cộng hòa ; đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh phải rút quân khỏi Việt Nam. Do không muốn tham gia vào một cuộc chiến đã bước vào hồi kết, tháng 6/1973 Lưỡng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật “Case-Church” cấm cơ quan hành pháp nước này tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được chấp thuận của Lưỡng viện.

Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản. Khi người “bảo trợ” đã ra đi, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế đơn độc và bất lợi trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.

Cuộc đụng độ biên giới năm 1969 mang lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) niềm tin rằng họ có thể chống trả Hồng quân Liên Xô. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972. Sau chuyến công du đó, Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn quan hệ chiến lược này bị rạn nứt vì vụ Hoàng Sa. Việc lựa chọn giữa“đồng minh cũ” hay “người bạn mới” trong “thời kỳ trăng mật” này không phải là sự lựa chọn khó khăn đối với Mỹ.

kissinger01
Ngoại trưởng Kissinger trong chuyến thăm Trung Quốc. Ảnh tư liệu

Thực tế, trong trận Hải chiến Hoàng Sa chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình với Đại sứ quán Mỹ nhưng Washington đã không có động thái hỗ trợ nào.

Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa (Việt Nam) thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ. Hải đoàn này đủ khả năng kiểm soát không và hải phận, cũng như hoạt động của các tàu ngầm trong vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc.

Cũng thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa mới chỉ là quan sát viên mà chưa phải thành viên của Liên Hợp Quốc trong khi Trung Quốc là một trong 5 nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Vị thế quốc tế của Trung Quốc khiến nước này tự tin rằng, Việt Nam Cộng hòa không có đủ tư cách sử dụng các cơ chế để tự vệ và bảo vệ Hoàng Sa theo các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Ngày 30/1/1974, Lãnh sự quán Mỹ ở Hồng Kông đã báo cáo về Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Mỹ ở các nước liên quan về những tính toán của Trung Quốc trong việc thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Cơ quan này nhận định,Trung Quốc đã có ý đồ đánh chiếm Hoàng Sa từ trước.

Theo phân tích của lãnh sự quán Mỹ, quyết định đánh chiếm Hoàng Sa phụ thuộc vào một số yếu tố như tiềm năng về dầu khí tại khu vực, lo ngại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa cũng như lợi ích chiến lược về lâu dài của quần đảo.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có thể lo sợ việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không tiếp tục giữ thái độ im lặng trước vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Bằng việc sử dụng vũ lực, Trung Quốc đã tránh tình huống nguy hiểm hơn nhiều sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra tuyên bố chủ quyền về Hoàng Sa. Điều này đã được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành sau khi đất nước thống nhất.

Theo nhận định trong các hồ sơ ngoại giao được giải mật, nỗi lo sợ ngày càng lớn của Trung Quốc trước hoạt động của hải quân Liên Xô tại biển Đông và các vùng biển khác ở châu Á có thể là yếu tố dẫn đến quyết định của Trung Quốc. Đây là thời kỳ đỉnh điểm rạn nứt quan hệ Xô – Trung liên quan đến tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới hai nước, cũng như các vấn đề Nam Phi, Trung Đông và Đông Dương.

Trong lúc nhiều yếu tố bên ngoài nghiêng về hướng có lợi cho một cuộc chiến chớp nhoáng của Trung Quốc thì bối cảnh trong nước cũng hết sức bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa khi Lưỡng viện Mỹ giảm dần viện trợ từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD vào năm 1974. Quân đội Việt Nam Cộng hòa dần rơi vào thế thụ động vì thiếu nhiên liệu, vũ khí. Bất lợi hơn là ý định “bỏ rơi” miền Nam Việt Nam của Mỹ. Tình trạng phân chia Bắc – Nam cũng là một trở ngại cho phía Việt Nam Cộng hòa trong trận hải chiến 1974.

Lợi dụng bối cảnh đó, Trung Quốc đã không e ngại khi điều động chiến hạm đến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Nguyễn Hùng Cường

***

Thắp nến tri ân những người ngã xuống vì Hoàng Sa (Vũ Trung)

Tối ngày 18/1, tại công viên Biển Đông, Đà Nẵng sẽ diễn ra lễ Thắp nến tri ân những người đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa, trong đó có 74 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Theo đó, Lễ Thắp nến tri ân những người là binh sỹ thuộc lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa sẽ bắt đầu từ 17h-21h ngày 18/1 tại công viên Biển Đông (đường Võ Nguyên Giáp, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng).

thapnentrian01
Lễ thắp nến tri ân những người ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa
sẽ bắt đầu từ 17h-21h ngày 18/1 tại công viên Biển Đông (Đà Nẵng).

Ngoài ra, còn nhiều hoạt động văn hóa ý nghĩa khác nhằm tưởng niệm, tri ân đối với những người đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa với sự tham gia của hơn 1.000 sinh viên, trí thức và người dân Đà Nẵng.

40 năm sau ngày quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm (19/1/1974-19/1/2014), UBND huyện đảo Hoàng Sa, TP Đà Nẵng tổ chức lễ kỷ niệm và trưng bày những chứng cứ pháp lý và tư liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

nhinrabiendong
Nhìn ra biển, công viên Biển Đông (quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng)
là nơi diễn ra lễ Thắp nến tri ân những người đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa

Bộ Thông tin và Truyền Thông cùng UBND huyện đảo Hoàng Sa, bảo tàng Đà Nẵng tổ chức nhiều chương trình hoạt động quy mô lớn nhất từ trước nay với chủ đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – những bằng chứng lịch sử”.

Cũng trong khuôn khổ các hoạt động “Hướng về Hoàng Sa”, đánh dấu 40 năm ngày quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép (19/01/1974-19/01/2014), Bộ Thông tin và Truyền Thông cùng UBND huyện đảo Hoàng Sa, sẽ tổ chức nhiều chương trình hoạt động quy mô lớn nhất từ trước nay với chủ đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam –  những bằng chứng lịch sử”.

Ngoài ra, một loạt các hoạt động diễn ra trong 2 ngày từ 18/1-19/1 như : triển lãm lưu động về chủ quyền Hoàng Sa đến các trường đại học ; tọa đàm, hội thảo…

Một hội thảo khoa học cấp quốc gia về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa được tổ chức ngày 19/1 tại Đà Nẵng với sự tham gia của các nhà sử học, các chuyên gia, các nhân chứng lịch sử trong và ngoài nước.

Trước đó, UBND TP Đà Nẵng, Sở Thông tin Truyền thông, UBND huyện Hoàng Sa, Bảo tàng Đà Nẵng đã tổ chức nhiều hoạt động như hội thảo, nói chuyện, tọa đàm, triển lãm,.. nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép suốt 40 năm qua.

Hàng loạt hoạt động diễn ra trong 2 ngày 18 và 19/1 : triển lãm lưu động về chủ quyền Hoàng Sa đến các trường đại học, tọa đàm, hội thảo… Đặc biệt, đêm 18/1 tại công viên Biển Đông, lần đầu tiên tổ chức lễ “Thắp nến tri ân” những người đã ngã xuống vì Hoàng Sa, trong đó có 74 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Một hội thảo khoa học cấp quốc gia về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa được tổ chức ngày 19/1 tại Đà Nẵng với sự tham gia của các nhà sử học, các học giả đầu ngành trong và ngoài nước.

Theo Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ, chương trình đối thoại trực tiếp do Đài Phát thanh truyền hình Đà Nẵng thực hiện sẽ là điểm nhấn trong dịp kỷ niệm này.

Vũ Trung

***

Quyền kế thừa của nhà nước và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa (Thái Văn Cầu)

Ngày 19/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.[1]

hoangsa06_cumluoiliem
Đảo Hoàng Sa thuộc cụm Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa
của Việt Nam – Ảnh : Google Earth

Trong 40 năm qua, có nhiều nghiên cứu, bài phỏng vấn, bài viết về trận đánh ở Hoàng Sa nói riêng và về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam nói chung, nhìn từ các góc độ khác nhau.[2]

Mục đích của bài viết này nhằm xét đến quyền kế thừa lãnh thổ, trên đất liền và trên sông, biển, của nhà nước, theo luật pháp quốc tế, ứng dụng vào chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa và những tình huống khác nhau để có hành động thiết thực, bảo vệ hữu hiệu quyền lợi Tổ quốc.

Vào đầu thập niên 1990, thế giới chứng kiến sự thay đổi địa chính trị lớn lao ở châu Âu, ảnh hưởng đến ranh giới lãnh thổ của nhiều nước trong khu vực như Đức, Liên Xô, Nam Tư, Tiệp Khắc…

Cùng với tranh chấp lãnh thổ thường xuyên xảy ra, sự thay đổi địa chính trị này góp phần gia tăng hiểu biết về quyền kế thừa lãnh thổ, thông qua quyết định của Tòa án Quốc tế.

Quyền kế thừa lãnh thổ của nhà nước chia làm các trường hợp khác nhau:

1. Quyền kế thừa từng phần :

– Một phần lãnh thổ của nhà nước A trở thành lãnh thổ của nhà nước đang hiện hữu B như trường hợp tiểu bang Alaska của Mỹ.

– Một phần lãnh thổ của nhà nước A trở thành nhà nước mới B như trường hợp Liên Xô, Nam Tư, Tiệp Khắc.

2. Quyền kế thừa toàn bộ :

– Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước A sáp nhập vào nhà nước đang hiện hữu B như trường hợp Đức.

– Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước A sáp nhập vào nhà nước mới B như trường hợp Việt Nam, Yemen.

Nhà nước A hay B bao gồm một hay nhiều nhà nước riêng biệt.

Ghi nhận một số trường hợp về nhà nước kế thừa :

1. Trường hợp Cộng hòa Liên bang Nam Tư (Serbia-Montenegro) (gọi tắt là Nam Tư) – sự kiện Liên Hiệp Quốc, trong một thời gian, không thu nhận nước này làm thành viên, khiến quyết định của Tòa án Quốc tế không đi sát với nguyên tắc thông thường, theo đó Nam Tư là nhà nước kế thừa, được quốc tế công nhận.[3]

2. Trường hợp Cộng hòa Liên bang Đức – khi Cộng hòa Dân chủ Đức ngưng hiện hữu năm 1990 và sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa án Quốc tế được xem là đã sử dụng nguyên tắc “kế thừa tự nhiên” đối với Đức trong lãnh vực nhân đạo hay khi ứng dụng Công ước Diệt chủng. Cả hai nhà nước là thành viên Liên Hiệp Quốc từ năm 1973.[4]

3. Trong giải quyết tranh chấp Hungary-Slovakia về đập Gabcicovo-Nagymaros, Tòa án Quốc tế sử dụng nguyên tắc kế thừa tự nhiên trên cơ sở Điều 12, Công ước Vienna năm 1978. Slovakia là nhà nước kế thừa, được quốc tế công nhận, của Tiệp Khắc, và bị ràng buộc bởi Hiệp ước năm 1977 giữa hai nước. Tiệp Khắc, Hungary và Slovakia là thành viên của Liên Hiệp Quốc lần lượt từ năm 1945, 1955 và 1993.[5]

Qua một nghiên cứu trước đây, người viết chứng minh hai sự kiện :

1. Trong giai đoạn 1954-1976, có hai nhà nước riêng biệt, cùng hiện hữu trên đất nước Việt Nam, ngăn cách bởi vĩ tuyến 17.

2. Cộng đồng thế giới nói chung, Trung Quốc, Liên Xô, và Mỹ nói riêng, công nhận thực tế này.[6]

Trước hành động dùng vũ lực của Trung Quốc ở Hoàng Sa đầu năm 1974, vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Khoản 4, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, hai chính thể ở phía Nam vĩ tuyến 17, Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam lên tiếng phản đối trước quốc tế.

Khi đất nước thống nhất, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp tục hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, kế thừa từ Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa.[7]

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 8 năm 1975. Mặc dù ở Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, có 123 nước ủng hộ, không có nước chống đơn gia nhập của Việt Nam, Mỹ dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để ngăn chặn.

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức sáp nhập thành Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở khóa họp đầu tiên của Quốc hội giữa năm 1976.

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 9 năm 1977.

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố, khẳng định lãnh hải, bao gồm quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, lần lượt vào năm 1977 và 1982.[8]

Quyết định của Tòa án Quốc tế về quyền kế thừa của nhà nước và phương cách hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp, hình thành nhà nước mới, cho thấy Nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ luật pháp quốc tế trong việc thụ hưởng quyền thừa kế chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa từ các nhà nước, được quốc tế công nhận, trước đấy.

Hai quyết định sau của Tòa án Quốc về tranh chấp lãnh thổ cho thấy tình huống có thể xảy ra cho chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.

1. Trong giải quyết tranh chấp Honduras-Nicaragua về bốn đảo nhỏ trong Biển Caribe, ngoài sự kiện không có nước thứ ba công nhận một cách liên tục và nhất quán chủ quyền các đảo này thuộc Honduras hay Nicaragua, Tòa án Quốc tế cho rằng sự liên tục lên tiếng khẳng định chủ quyền của Nicaragua là không đầy đủ so với phương cách hành xử chủ quyền của Honduras. Do đó, Tòa án Quốc tế trao chủ quyền bốn đảo nhỏ cho Honduras.[9]

2. Trong giải quyết tranh chấp Malaysia-Singapore về đảo Pedra Branca, Tòa án Quốc tế nhận định Malaysia, không phải Singapore, là nước có chủ quyền ban đầu, nhưng phương cách hành xử chủ quyền của Singapore ở thời điểm sau khiến Tòa án Quốc tế trao chủ quyền đảo Pedra Branca cho Singapore. Quyết định này phản ánh nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định” mà Tòa án Quốc tế vẫn sử dụng.[10]

Khi nói về quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, lãnh đạo Nhà nước, trong vài năm qua, có những tuyên bố sau :

“Năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.”(Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, 2011)[11]

hay :

“Không nên nói rằng các vị lãnh đạo Việt Nam chỉ bảo vệ chủ quyền bằng nói miệng. Nói vậy cực đoan quá… Chủ trương của ta là mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Có thể nước lớn phớt lờ luật pháp quốc tế vì họ mạnh. Nhưng chúng ta không bao giờ và không được từ bỏ công cụ là luật pháp quốc tế.”(Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, 2013)[12]

Các tuyên bố như trên phản ánh đúng đắn sự thật lịch sử, phản ánh quyết tâm của lãnh đạo trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi đất nước.

So với Trung Quốc hay so với một nước nào khác trong tranh chấp trên biển Đông, Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa mạnh mẽ, rõ ràng, vững chắc.

Đây là thuận lợi có giá trị vô cùng to lớn mà tiền nhân đã để lại cho thế hệ ngày nay.

Tuy nhiên, các quyết định của Tòa án Quốc tế trong giải quyết tranh chấp cho thấy thuận lợi về chủ quyền lãnh thổ của một nước không ở lâu dài với nước đấy.

Bên cạnh ngụy tạo chứng cứ lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa để đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, Trung Quốc nghiên cứu kỹ lưỡng quyết định của Tòa án Quốc tế, nhận thức rõ điểm yếu trong đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc và tích cực tìm cách khắc phục.[13]

Trung Quốc thừa hiểu kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa trong khi tiếp tục “hành xử” chủ quyền có yếu tố quyết định, hoàn toàn thuận lợi cho Trung Quốc ở Tòa án Quốc tế, như đã dẫn chứng trong tranh chấp giữa Honduras-Nicaragua hay giữa Malaysia-Singapore.[14]

Nói một cách khác, Việt Nam đang đối diện với thuận lợi về mặt lịch sử và pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa ngày càng giảm thiểu, thu nhỏ ; cán cân thăng bằng trong thuận lợi sẽ chuyển hướng, hậu quả của một chiến lược kiên trì, tinh vi và xảo quyệt của Trung Quốc, nhằm chiếm giữ vĩnh viễn Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.

Việt Nam vừa nhận chiếc tàu ngầm tối tân đầu tiên từ Nga. Trong khi hiện đại hóa quân đội là bước không thể thiếu để gia tăng phòng vệ, là nước yêu chuộng hòa bình, Việt Nam nên nghiêm túc sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa trong thời gian tới.

Chọn lựa dứt khoát, mạnh dạn của Việt Nam, biến quyết tâm hiện có về Hoàng Sa-Trường Sa thành hành động cụ thể là nghĩa vụ, là trách nhiệm phải hoàn thành của mỗi và mọi người Việt Nam trước lịch sử, trước gương hy sinh của các thế hệ đã qua, trước sự mong đợi của các thế hệ sắp đến, trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Thái Văn Cầu

* Tác giả là chuyên gia khoa học không gian, hiện sống tại Mỹ

Chú thích:

1. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

Xem thêm : “Gặp nhân chứng trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974″, Thạch Sơn-Thành Luân, 2011

http ://daidoanket.vn/index.aspx ?Menu=1501&Chitiet=33184&Style=1

“Lời thề trước 64 liệt sĩ hi sinh tại Trường Sa”, Tiến Thành, 2012

http ://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/487545/loi-the-truoc-64-liet-si-hi-sinh-tai-truong-sa.html

“Ngày 14.3.1988, hai lăm năm nhìn lại”, Việt Long, 2013

http ://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/ngay-14-3-1988-hai-lam-nam-nhin-lai.aspx

2. Tài liệu điển hình về trận đánh ở Hoàng Sa :

“Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa”, Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm, 2004

“Can trường trong chiến bại”, Hồ Văn Kỳ Thoại, 2007

“Trận Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974”, Hà Văn Ngạc & Hà Mạnh Chí, 2009

“Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974”, Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa, 2010

“Phát hiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Việt Nam Cộng Hòa chuẩn bị chiến đấu đòi lại chủ quyền”, Trần Công Trục, 2013

http ://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Phat-hien-Trung Quốc-chiem-Hoang-Sa-Việt Nam Cộng Hòa-chuan-bi-chien-dau-doi-lai-chu-quyen-post135947.gd

Tài liệu điển hình về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa :

“La souverainete sur les archipels Paracels et Spratleys”, Monique Chemillier-Gendreau, 1996

“Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Từ Đặng Minh Thu, 2007

http ://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Giải pháp cho vấn đề Biển Đông”, Tạ Văn Tài, 2010

http ://www.tapchithoidai.org/ThoiDai20/201020_TaVanTai.htm

“Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys : Its Maritime Claim”, Nguyễn Hồng Thao, 2012

http ://southeastasiansea.files.wordpress.com/2013/08/vietnams-position-on-the-sovereignty-over-the-paracels-the-spratlys-its-maritime-claim.pdf

“Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông”, Trần Công Trục (chủ biên), 2011

“Lẽ phải : Luật Quốc tế và Chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Nguyễn Việt Long, 2012

“Hoàng Sa-Trường Sa : Luận cứ & Sự kiện”, Đinh Kim Phúc, 2012

3. “Application of the Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide (Bosnia and Herzegovina v. Serbia and Montenegro)”, Tòa án Quốc tế, 1996

http ://www.icj-cij.org/docket/files/91/13685.pdf

4. “Colonial Genocide and Reparations Claims in the 21st Century : The Socio-Legal Context of Claims under International Law by the Herero against Germany for Genocide in Namibia, 1904-1908”, Jeremy Sarkin, 2008, pp. 162-168

5. “Gabčíkovo-Nagymaros Project (Hungary/Slovakia)”, Tòa án Quốc tế, 1997

http ://www.icj-cij.org/docket/index.php ?p1=3&p2=3&case=92

“Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties”, 1978

http ://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/conventions/3_2_1978.pdf

“The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law”, Matthew C.R. Craven, 1998

http ://www.ejil.org/pdfs/9/1/1471.pdf

6. “Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa”, Thái Văn Cầu, 2013

http ://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/hai-nha-nuoc-viet-nam-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

7. “La souveraineté du Viet Nam sur les archipels Hoang Sa et Truong Sa”, Bộ Ngoại giao nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , 1979, pp. 54-55

“The Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes : Vietnamese Territories”, Bộ Ngoại giao nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , 1981, pp. 17-18

“Hiến chương Liên Hiệp Quốc : Chương I – Chương IX” (www.luatquocte.com/hien-chuong/hien-chuong-lien-hiep-quoc/hien-chuong-lien-hiep-quoc-chuong-i-chuong-ix.nd5-dt.9.005025.html)

8. “Giai đoạn 1976-1985 : Đất nước thống nhất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ” (chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu ?categoryId=798&articleId=2892)

“Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”, 1977 (www.namdinh.gov.vn/Home/biengioibien/vanban/2011/2501/Tuyen-bo-cua-Chinh-phu-nuoc-Cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia.aspx)

“Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam”, 1982

“The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea : An Analysis of Vietnamese Behavior within the Emerging International Oceans Regime”, Epsey Cooke Farrell, 1998, pp. 300-302

9. “Territorial and Maritime Dispute between Nicaragua and Honduras in the Caribbean Sea (Nicaragua v. Honduras)”, Tòa án Quốc tế, 2007 (www.icj-cij.org/docket/index.php ?p1=3&p2=1&k=14&case=120&code=nh&p3=4)

“The ICJ Awards Sovereignty over Four Caribbean Sea Islands to Honduras and Fixes a Single Maritime Boundary between Nicaragua and Honduras”, Pieter Bekker & Ana Stanic, 2007 (www.asil.org/insights/volume/11/issue/26/icj-awards-sovereignty-over-four-caribbean-sea-islands-honduras-and)

10. “Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore)”, Tòa án Quốc tế, 2008 (www.icj-cij.org/docket/index.php ?p1=3&p2=3&k=2b&case=130&code=masi&p3=4)

“Estoppel, Acquiescence and Recognition in Territorial and Boundary Dispute Settlement”, Nuno Sergio Marques Antunes, 2000

11. “Việt Nam đòi chủ quyền Hoàng Sa bằng hòa bình”, TT Nguyễn Tấn Dũng, 2011 (vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/viet-nam-doi-chu-quyen-hoang-sa-bang-hoa-binh-2212051.html)

“Giải pháp đòi lại Hoàng Sa”, Nguyễn Thái Linh, Lê Minh Phiếu, Lê Vĩnh Trương

(Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), 2011 (biendong.tuoitre.vn/goc-nhin-chuyen-gia/466951/Giai-phap-doi-lai-Hoang-Sa.html)

“Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa”, TT Nguyễn Tấn Dũng, 2013 (tuoitre.vn/the-gioi/551486/thu-tuong-vn-vn-khang-dinh-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa.html)

12. “Không có chuyện chỉ bảo vệ chủ quyền bằng miệng”, CTN Trương Tấn Sang, 2013 (m.nguoiduatin.vn/khong-co-chuyen-chi-bao-ve-chu-quyen-bang-mieng-a78577.html)

“Chúng ta không nhu nhược trong bảo vệ chủ quyền”, CTN Trương Tấn Sang, 2013 (vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chu-tich-nuoc-chung-ta-khong-nhu-nhuoc-trong-bao-ve-chu-quyen-2713623.html)

13. “Tổng lực nghiên cứu chủ quyền Biển Đông”, Hoàng Việt, 2011 (baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tong-luc-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong-tong-luc-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong-2195341/)

Theo bài này, trong giai đoạn 1999-2010, Trung Quốc có 238 luận án tiến sĩ và 516 hội thảo về đề tài Biển Đông.

Đầu năm 2013, Phi Luật Tân khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII-UNCLOS.

Dù có quan tòa của họ trong Tòa án Quốc tế và Tòa án Luật Biển, Trung Quốc không muốn đưa tranh chấp Biển Đông ra quốc tế. Ngoài một số nguyên tắc đã nêu, Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật Biển hay Tòa Trọng tài có quyết định dựa trên chứng cứ mỗi bên đưa ra.

“Philippines đưa tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra tòa án Liên Hiệp Quốc”, Vũ Quý, 2013 (dantri.com.vn/diem-nong/philippines-dua-tranh-chap-bien-dao-voi-trung-quoc-ra-toa-an-lhq-688179.htm)

“Philippines có đủ chứng cứ để kiện Trung Quốc”, Thái An, 2013

vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/131881/philippines-co-du-chung-cu-de-kien-tq.html

www.icj-cij.org/presscom/files/7/16987.pdf

www.itlos.org/index.php ?id=96&L=0

Tài liệu chứng cứ lịch sử ngụy tạo của Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa :

“China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha Islands”, Bộ Ngoại giao nước Cộng HòaNDTH, 1980

“Selected Works of Han Zhenhua”, Han Zhenhua, 1999

“Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông được đề cập trong tác phẩm Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hối Biên”, Hồ Bạch Thảo, 2010 (www.tapchithoidai.org/ThoiDai20/201020_HoBachThao.htm)

“Những ghi chép liên quan đến Biển Đông của Việt Nam trong Chính sử Trung Quốc”, Phạm Hoàng Quân, 2011 (seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/china-arguments/728-nhng-ghi-chep-lien-quan-n-bin-ong-vit-nam-trong-chinh-s-trung-quc

14.”Trung Quốc ngang nhiên tổ chức lễ thành lập “thành phố Tam Sa”, Sơn Duân, 2012 (www.thanhnien.com.vn/pages/20120724/trung-quoc-ngang-nhien-to-chuc-le-thanh-lap-thanh-pho-tam-sa.aspx)

”Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động phi pháp ở ‘TP.Tam Sa’”, Văn Khoa, 2014 (www.thanhnien.com.vn/pages/20140104/trung-quoc-day-manh-hoat-dong-phi-phap-o-tp-tam-sa.aspx)

***

Bốn mươi năm (40) năm Hải chiến Hoàng Sa : Khi nước lớn quyết ra tay (Duy Linh –  Thuận Phương)

Trong bối cảnh một nước Việt Nam thống nhất và có chiều hướng thân Liên Xô sắp thành hình, Bắc Kinh quyết định ra tay trước, chiếm lấy toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 để lại cho Việt Nam nhiều bài học quý, cũng đồng thời đặt ra yêu cầu phải có thay đổi trong cách hành xử với nước lớn, đặc biệt là ở vấn đề nhạy cảm.

Lịch sử cho thấy, trong hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, đã có gần 1000 năm chúng ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc cùng vô số lần bị xâm lược khác.

Vị trí địa lí gần kề Trung Quốc –  quốc gia duy nhất tự thân nó là một nền văn minh là bất di bất dịch nhưng chúng ta hoàn toàn có thể vượt qua “lời nguyền” này nếu có cách tiếp cận hợp lý, nhất là về khía cạnh địa chính trị, ngoại giao. Nhưng trước hết, Việt Nam cần phải trung thực với lịch sử, với chính bản thân mình. Cùng nhìn lại sự kiện Hải chiến Hoàng Sa 40 năm trước để rút ra bài học.

Các ông lớn bắt tay nhau

40 năm nhìn lại, hải chiến Hoàng Sa được đặt trong bối cảnh những rạn nứt trong mối quan hệ Trung –  Xô, đồng thời là sự ấm lên trong quan hệ Trung –  Mỹ. Sau những mâu thuẫn không thể giải quyết dẫn đến cuộc xung đột biên giới Trung –  Xô năm 1969, Trung Quốc ngày càng xích lại gần “người bạn mới” Hoa Kỳ mà đỉnh cao là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon vào tháng 2 năm 1972.

hq10_03
Ảnh tư liệu

Sau khi kí Hiệp định Paris (01/1973), Mỹ tiến hành rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ còn đồng thời rút khỏi các đảo, quần đảo chiếm đóng trước đây, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa và xem việc phòng bị các đảo này là chuyện riêng của Việt Nam Cộng hòa (Việt Nam Cộng Hòa).

Trong bối cảnh một nước Việt Nam thống nhất và có chiều hướng thân Liên Xô sắp thành hình, Bắc Kinh quyết định ra tay trước, chiếm lấy toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Căng thẳng bắt đầu xuất hiện và leo thang từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, trận hải chiến chính thức bắt đầu. Các tàu phía Việt Nam Cộng Hòa dù có tải trọng lớn, trang bị mạnh nhưng do tốc độ chậm lại cồng kềnh nên khó khăn trong việc đối phó với các tàu Trung Quốc nhỏ và nhanh hơn.

Thế trận dần rơi vào bất lợi, Việt Nam Cộng Hòa buộc phải rút quân sau một ngày chiến đấu, Trung Quốc chiếm được Hoàng Sa trong ngày hôm đó. Ngay sau trận chiến, Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh tập hợp lực lượng chuẩn bị phản công giành lại Hoàng Sa.

Tuy nhiên, không một đợt phản công nào được tiến hành và Trung Quốc nghiễm nhiên chiếm giữ Hoàng Sa cho đến hôm nay.

Mỹ khi ấy đã giữ thái độ “không phản ứng rõ rệt, im lặng, không can thiệp” nhưng thực chất đã ngầm gây sức ép lên chính quyền Thiệu trong kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa sau đó. Mỹ một mặt muốn giữ mối quan hệ mới chớm nở với Trung Quốc mặt khác muốn khoét sâu thêm sự chia rẻ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Bằng một thái độ lạnh nhạt, Mỹ và các đồng minh của mình đã cảnh báo Sài Gòn không nên đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Liên Xô không ra thông báo chính thức chỉ trích, nhưng báo chí nước này lại hết sức sôi nổi, trong đó có tờ Sự thật, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Việt Nam DCCộng Hòa không thể hiện bất kì một phản ứng nào trước hành động của Trung Quốc. Bởi bất kì một sự phản ứng nào, cũng sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc, dù có mâu thuẫn với Liên Xô và “đi đêm” với Mỹ, nhưng vẫn hỗ trợ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chính phủ Việt Nam DCCộng Hòa khi ấy đã có một quyết định khôn ngoan.

Bởi theo nhà nghiên cứu Trung Quốc lão thành Dương Danh Dy “Việc không nói để không ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước thì rõ rồi. Nhưng việc không nói còn làm cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc chủ quan, nghĩ rằng Việt Nam DCCộng Hòa coi nhẹ vấn đề biển đảo mà không tìm cách đánh chiếm luôn quần đảo Trường Sa nữa”.

Như vậy, việc Việt Nam DCCộng Hòa không lên tiếng khi ấy là một sự im lặng có tính toán.

Câu hỏi được đặt ra là, tại sao lại là Việt Nam mà không phải nước khác nằm trong chiến lược bành trướng của Trung Quốc ? Vị trí địa lý nằm gần kề, truyền thống bành trướng, tham vọng quá lớn cùng những điều kiện hết sức thuận lợi bên trong lẫn bên ngoài đã thúc đẩy việc Trung Quốc lựa chọn Hoàng Sa như là một mục tiêu khả dĩ.

Lời nguyền địa lý –  “lời nguyền” bất khả phá ?

Ta thử lấy hình ảnh con gà trống để ví von Trung Quốc và các nước xung quanh. Khi đó, thân con gà trống sẽ là Trung Quốc, Triều Tiên sẽ là chiếc mỏ và Việt Nam là chân của con gà.

Cách so sánh này cho thấy tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt là vấn đề an ninh. Mặt khác, còn chỉ ra một thực tế, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đó là trong hàng nghìn năm qua Việt Nam đã phải gánh trên vai “sức nặng” của Trung Quốc. Vấn đề là, Việt Nam nếu có muốn cũng không bao giờ có thể thoát khỏi tình trạng này, bởi vị trí địa lí là đặc thù riêng và gắn chặt với vận mệnh của mỗi quốc gia.

Theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam đã bị chi phối bởi “lời nguyền địa lí”. Theo đó, Việt Nam không còn cách nào khác ngoài việc học cách chia sẻ số phận của mình với Trung Quốc. Sự đe dọa từ Trung Quốc đã được chứng thực qua hàng nghìn năm lịch sử. Nó không chỉ xuất phát từ sự kế cận về địa lý mà còn từ sự bất tương xứng sức mạnh giữa hai nước. Trung Quốc rộng gấp 29 lần Việt Nam, dân số Việt Nam, dù xếp thứ 14 trên thế giới, cũng chỉ bằng một tỉnh trung bình của Trung Quốc. Và dù trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong phát triển kinh tế cũng như nâng cao sức mạnh quân sự, khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng xa.

Trong mối quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam kiên trì theo đuổi 3 mục tiêu lớn. Một là duy trì các chuyến thăm cấp cao và cấp nhà nước như một công cụ ngoại giao để giải quyết các vấn đề chung còn khúc mắc giữa theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trong đó, lợi ích của Trung Quốc phải phù hợp và không gây tổn hại cho phía Việt Nam. Hai là nỗ lực đa phương hóa trong hợp tác, đưa Trung Quốc vào một mạng lưới hợp tác đa phương.

Và cuối cùng, cũng là một trong những mục tiêu nhằm giữ vững chủ quyền Việt Nam.

Một khía cạnh mới bổ sung vào “lời nguyền địa lý” mà Việt Nam đang gánh chịu chính là kinh tế. Việt Nam hi vọng, sự phụ thuộc về kinh tế, dù không tương xứng, cũng sẽ làm giảm nguy cơ Trung Quốc tấn công quân sự Việt Nam, đặc biệt là trên biển Đông trong tương lai.

Trên tất cả, mối bận tâm chiến lược quan trọng của lãnh đạo Việt Nam là như thế nào sử dụng các đòn bẩy ngoại giao, quan hệ kinh tế và quan hệ quân sự để duy trì độc lập, tự chủ của mình và ngăn chặn nguy cơ bị kéo vào quỹ đạo của Trung Quốc.

Nhưng như vậy liệu đã đủ ?
Còn nữa ?

Duy Linh –  Thuận Phương
Nguồn: vietnamnet.vn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s