CXN_080914_5908_Thằng Phạm Chí Dũng này không những ngu xuẫn và dốt nát mà còn là thằng xạo bà cố nữa: TPP cho VN: Thời gian không phải vô hạn

Phạm Chí Dũng, một thằng tay sai CS ve sầu thoát xác, điệp viên 2 mang trg PT dân chủ đang thu gom bà con nhẹ dạ ủng hộ đám rân chủ dởm để chúng thỏa hiệp dc nhượng quyền bởi CS rồi cho CS thoát thân với tài sản tham nhũng là 50 đến 100 tỉ usd (1 đến 2 triệu tỉ vnd)

Phạm Chí Dũng, một thằng tay sai CS ve sầu thoát xác, điệp viên 2 mang trg PT dân chủ đang thu gom bà con nhẹ dạ ủng hộ đám rân chủ dởm để chúng thỏa hiệp dc nhượng quyền bởi CS rồi cho CS thoát thân với tài sản tham nhũng là 50 đến 100 tỉ usd (1 đến 2 triệu tỉ vnd)

Châu Xuân Nguyễn
——————————

Vậy mà có những hãng thông tấn quốc tế như BBC, RFI, RFA, BBC còn ngu hơn nó nữa, ko phán xét được (poor Judgement) để đăng những bài xạo láo, vẽ vời để chỉnh đốn nội bộ DCS của chúng để sống lâu hơn thôi.
—-

Khi thương lượng về Hiệp ước thương mại, thời gian là bất tận. Tiền thân của WTO là GATT (General Agreement on Tariff and Trades, báo chí thế giới châm biếm là General Agrement on Talk and Talk). Nó bắt đầu năm 1947 và kết thúc 1994 (47 năm) và kết thúc bằng cách đổi tên là WTO.(xem phần cuối dịch Google)
————

Về chuyện TPP, Obama bây giờ là hoàn toàn không có quyền gì nữa. Về TPP chia làm 2 phần, phần thương lượng là do 12 QG thỏa thuận nhau, càng gút mắc thì càng lâu, thế thôi và không ai ngay cả Mỹ có khả năng control là bao giờ phải  xong (BTA giữa Mỹ và VN, 2 QG là 15 năm).
Với TPP, VN có 4 lĩnh vực chưa đụng đến, xuong8 xẩu là DNNN, Sở Hữu Trí tuệ, Công đoàn độc lập và nguồn nguyên vật liệu. 4 Lĩnh vực này phải đồng thuận với 11 thành viên còn lại, như Nhật thì ko quan tâm lắm về công đoàn hay DNNN nhưng Mỹ lại rất quan tâm. Tất cả phải đồng thuận. Mấy năm trước, nói cuối 2013 xong, rồi cuối 2014 bây giờ là 18 hay 24 tháng nữa, chỉ có trời biết bao giờ mới xong, GATT là 47 năm 130 QG nhưng mỗi ngày mỗi thêm thêm hoài, thêm mãi v.v…
——————-
Obama ko có quyền gì trong thương lượng và Lưỡng viện Mỹ chỉ có quyền phủ quyết thôi, nếu VN chậm thì nửa QH mới vào, ng khác cũng phải tiếp tục chứ liệng thùng rác hay sao ??? Đây là cái láo cá, điếm đàng của PCD.
———–
Đây là câu nói láo của PCD: “Thượng Nghị sỹ John McCain ủng hộ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam”, Mc Cain ko giở bỏ (lift) mà chỉ tháo gở từ từ (ease the restriction) lệnh cấm VKST mà thôi.
————
Thằng PCD này hù dọa đám bảo thủ CSVN để chúng quay qua dựa Mỹ để đám thân Mỹ chiếm thượng phong, sửa qua loa vài điều NQ rồi ngồi đó cai trị thêm 50 hay 100 nẵm, đó là ý đồ của PCD quá rõ từ lâu, là một con chó săn của DCS VN
——
Mel, CXN, 9.8.14
+++++++++++++++++

TPP cho VN: Thời gian không phải vô hạn

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng

Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Cập nhật: 06:03 GMT – thứ bảy, 9 tháng 8, 2014

VN không còn nhiều thời gian để đàm phán TPP trước khi Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Quốc hội

Thời gian để “kết thúc lộ trình đàm phán TPP” không thể là mãi mãi đối với giới lãnh đạo Hà Nội quen nhìn ngắn hạn.

Cuộc hội kiến mới đây với Thượng nghị sĩ Bob Corker, thành viên cao cấp trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, càng làm sáng tỏ quy luật hữu hạn chính trị ấy.

“Mời ngoài, chặn trong”

“Việt Nam kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại song phương, tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương, và ủng hộ giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông” – như đề nghị của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được đưa ra hôm 5/8 tại Hà Nội nhân buổi tiếp Thượng nghị sĩ Bob Corker đến thăm Việt Nam.

Vào tháng 7/2013 khi lần đầu tiên đặt chân vào tòa Bạch Ốc, ông Sang cũng đưa ra những lời có vẻ thật tha thiết và nhuốm đầy tinh thần “bốn tốt” như trên. “Khẩu hiệu” này lại được giới ngoại giao Việt Nam tận dụng và khai thác tối đa như một mệnh đề không thể thiếu cứ mỗi khi gặp người Mỹ hay các chính khách của Liên minh châu Âu.

Cũng suốt từ đầu năm 2014 đến nay, “Việt Nam quyết tâm hoàn thành đàm phán về TPP” và mong “Hoa Kỳ tạo điều kiện để Việt Nam có lộ trình phù hợp” là những tiêu ngữ được nhắc đi nhắc lại theo một lối rập khuôn không chuyển dời về bản chất.

TPP lại là dấu nhấn quan yếu nhất mà Bộ chính trị Hà Nội mong nguyện đạt được

Nhưng chỉ mới vào ngày 29/7, một bức thư do dân biểu Cộng hòa Frank Wolf khởi xướng với chữ ký của 32 dân biểu khác gửi cho Tổng thống Barack Obama đã quyết liệt chưa từng thấy: Quốc hội Mỹ sẽ khó cho Việt Nam vào TPP nếu Hà Nội không có những thay đổi đáng kể về mặt nhân quyền, cải tổ luật lệ đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế, và tỏ rõ cam kết về pháp quyền.

Bất chấp hai sự kiện mà Quốc hội Hoa Kỳ vừa biểu đạt thân ý là thông qua Thỏa thuận hạt nhân dân sự với Việt Nam và có thể còn giải tỏa cả lệnh cấm vận về mua vũ khí sát thương cho quốc gia cựu thù, TPP lại là dấu nhấn quan yếu nhất mà Bộ chính trị Hà Nội mong nguyện đạt được.

Tuy nhiên điều chua chát dành cho người Mỹ và có thể với cả chính quyền Việt Nam là cho đến giờ này, tiến độ thực hiện “những cải thiện có thể chứng minh được về nhân quyền” của giới lãnh đạo Hà thành vẫn chưa có gì minh chứng rõ rệt, cho dù người đứng đầu nền hành pháp Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng cũng vừa cam kết “trao đổi thẳng thắn về các vấn đề nhân quyền” với Thượng nghị sĩ Bob Corker, tương tự những cam kết trước đây của chính nhân vật này với chính giới phương Tây.

Thậm chí và cuối tháng 7/2014, chuyến làm việc 11 ngày của ông Heiner Bielefeldt – Báo cáo viên đầu tiên về chính trị và tự do tôn giáo của Liên hiệp quốc đến Việt Nam theo lời mời của chính phủ nước này, khởi phát từ cam kết của Hà Nội trước Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, đã gần như bị phá hủy bởi chiến thuật “mời ngoài, chặn trong” của Việt Nam.

Tất nhiên không quá vô cớ mà vị báo cáo viên này phải mô tả về những “vi phạm trầm trọng” đối với tự do tôn giáo ở Việt Nam, khi nhiều nhân chứng mà ông muốn gặp và cũng cần gặp ông đã bị hàng rào an ninh ngăn chặn không cho ra khỏi nhà, còn bản thân ông cũng bị “bám đuôi” một cách khá lộ liễu bởi những nhân viên không hiểu có am tường về nghiệp vụ “trinh sát ngoại tuyến” hay không.

Một lần nữa từ thời điểm “tái lập bang giao Việt – Mỹ” vào tháng 7/2013, câu hỏi tồn đọng trong não trạng khó nghĩ và càng khó xử là làm thế nào để Nhà nước Việt Nam được vào TPP, nếu họ không thực tâm cải thiện nhân quyền?

Một trong những biểu hiện ít cải thiện và dễ thấy nhất là những sáo từ “sẵn sàng” hay “quyết tâm” mà giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam bật ra trước các vị khách Hoa Kỳ vẫn không bớt trừu tượng ít ra từ năm 2007, khi Việt Nam được tham gia vào WTO, cho đến nay.

Chỉ còn một quý!

Thượng Nghị sỹ John McCain ủng hộ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam

Ngầm ý sâu xa nhất trong chuyến thăm Hà Nội lần này của Thượng nghị sĩ Bob Corker có lẽ không nằm trong các cuộc gặp chính thức, mà lại lồng trong một nội dung khi ông trả lời báo giới Việt Nam, trong đó thông tin rằng đến tháng 11/2014 này, nước Mỹ sẽ bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Quốc hội Mỹ.

Rất có thể điều này ngụ ý rằng Nhà nước Việt Nam, nếu muốn “nhanh chóng kết thúc đàm phán TPP”, sẽ chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa, trước khi các nghị sĩ Mỹ không còn toàn tâm toàn ý đến TPP cho Việt Nam.

Một thông tin khác do Thượng nghị sĩ Bob Corker nêu ra cũng rất có thể khiến Hà Nội thêm một lần thất vọng, là “quyết tâm” của Hoa Kỳ kết thúc TPP trong 12-18 tháng tới. Dự định này là khác nhiều so với ý định kết thúc TPP của Tổng thống Obama vào cuối năm 2014, và khác rất xa dự kiến trước đó vào cuối năm 2013. Nếu lộ trình thời gian này chính là chủ ý của Quốc hội Hoa Kỳ, có thể nói con đường đến với hoa hồng của Việt Nam sẽ không thể đồng nghĩa với đất nước Cờ Hoa.

Tất nhiên, thời gian vẫn còn dù chẳng nhiều nhặn gì. Hy vọng cho TPP vẫn còn le lói sau chuyến thăm Mỹ bất ngờ không tuyên bố trước của đại biểu quốc hội kiêm ủy viên bộ chính trị Phạm Quang Nghị – người được xem là một trong số những nhân vật bảo thủ nhất.

Từ nói đến làm lại là một khoảng cách khá lớn thường do Hà Nội tự vạch ra

Thế nhưng từ nói đến làm lại là một khoảng cách khá lớn thường do Hà Nội tự vạch ra.

Thậm chí tình thế còn trở nên ngáng trở hơn đối với Việt Nam khi bối cảnh chính trị – xã hội hiện thời không còn dáng dấp thuận lợi như thời điểm cuối năm 2013. Hiện thực đơn giản là từ đầu năm 2014, cùng với đà suy giảm thấp hơn về uy tín của Tổng thống Barak Obama, ông đã không còn chiếm thế thượng phong để có thể đưa ra những quyết định mà bị đảng Cộng hòa đối thủ và ngay một số nghị sĩ Dân chủ cầm quyền xem là “nương nhẹ Việt Nam”.

Riêng với TPP cho Việt Nam, quy chế gần như “đặc cách” này vẫn phải nhận được sự tán đồng của cả lưỡng viện trong Quốc hội Hoa Kỳ. Nếu không được đa số ủng hộ ở Hạ viện hoặc chỉ cần 1 thành viên trong Thượng viện chặn lại thì Việt Nam cũng không vào được TPP. Ngay thời điểm này, lại có đến 260 nghị sĩ Mỹ giương cao lá cờ “Không nhân quyền, không TPP!”.

Thời gian đang trôi đi rất nhanh. Nếu trong một quý tới mà Nhà nước Việt Nam vẫn không thực hiện những “cải thiện có thể chứng minh được về nhân quyền”, và hơn nữa những cải thiện này cần được mở ra một cách gấp rút và đột biến, liên quan ít nhất đến các chủ đề mở rộng xã hội dân sự, tôn trọng quyền lập hội và công đoàn độc lập, thả tù nhân lương tâm…, sẽ chẳng còn mấy ánh sáng sau đó để TPP cứu vãn nền kinh tế Việt Nam – vốn đang ngập ngụa suy thoái và rất có thể sẽ dẫn tới một cơn khủng hoảng kinh hoàng trong không bao lâu nữa.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một nhà phân tích kinh tế – xã hội Việt Nam đang sinh sống ở Sài Gòn.

——————
http://en.wikipedia.org/wiki/General_Agreement_on_Tariffs_and_Trade

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
Từ Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí
GATT” chuyển hướng ở đây. Đối với các ứng dụng khác, xem GATT (định hướng).

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) là một thỏa thuận đa phương quy định thương mại quốc tế. Theo lời nói đầu, mục đích của nó là “giảm đáng kể thuế quan và các rào cản thương mại khác và loại bỏ các sở thích, trên cơ sở có đi có lại cùng có lợi. đã được đàm phán trong Hội nghị LHQ về thương mại và việc làm và là kết quả của sự thất bại của đàm phán chính phủ để tạo ra Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO). GATT đã được ký kết vào năm 1947, có hiệu lực vào năm 1948, và kéo dài cho đến năm 1994; nó được thay thế bởi Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 1995.

GATT ban đầu văn bản (GATT 1947) vẫn còn hiệu lực trong khuôn khổ WTO, chịu sự điều chỉnh của Hiệp định GATT 1994 [1]

Nội dung

1 Rounds
1.1 Annecy Round: 1949
1.2 Torquay Vòng: 1951
1.3 Geneva tròn: 1955-1959
1.4 Dillon tròn: 1960-1962
1,5 Kennedy tròn: 1962-1967
1,6 vòng đàm phán Tokyo: 1973-1979
1.7 Vòng đàm phán Uruguay: 1986-1994
2 GATT và Tổ chức Thương mại Thế giới
3 Xem thêm
4 tài liệu tham khảo
5 Đọc thêm
6 Liên kết ngoài

vòng

GATT đã tổ chức tổng cộng chín vòng,
[ẩn] v · t · eGATT vòng đàm phán gia nhập WTO [2]
Name bắt đầu tích nước Thời gian Đối tượng được bảo hiểm
Geneva tháng 4 năm 1947 7 tháng 23 Thuế quan ký kết của GATT, 45.000 nhượng bộ thuế quan ảnh hưởng đến 10 tỉ USD thương mại
Annecy tháng 4 năm 1949 5 tháng 13 nước thuế quan trao đổi một số nhượng bộ thuế quan 5000
Torquay tháng 9 năm 1950 8 tháng 38 nước thuế quan trao đổi một số 8700 cắt giảm thuế, cắt giảm các mức thuế quan năm 1948 bởi 25%
Geneva II tháng 1 1956 5 tháng 26 Thuế quan, nhập học của Nhật Bản 2,5 tỷ USD cắt giảm thuế quan
Dillon tháng 9 năm 1960 11 tháng 26 Biểu thuế thuế quan ưu đãi có giá trị $ 4900000000 của thương mại thế giới
Kennedy tháng 5 năm 1964 37 tháng 62 Biểu thuế, chống bán phá giá ưu đãi thuế quan có trị giá 40 tỷ thương mại thế giới
Tokyo tháng 9 năm 1973 74 tháng 102 thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, giảm “khủng” thỏa thuận thuế trị giá hơn $ 300.000.000.000 USD đạt được
Uruguay tháng 9 năm 1986 87 tháng 123 thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, quy tắc, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, dệt may, nông nghiệp, tạo ra WTO, vv Vòng dẫn đến việc tạo ra của WTO, và mở rộng phạm vi của các cuộc đàm phán thương mại, hàng đầu cắt giảm thuế quan lớn (khoảng 40%) và trợ cấp nông nghiệp, một thỏa thuận cho phép truy cập đầy đủ cho hàng dệt may từ các nước phát triển và mở rộng các quyền sở hữu trí tuệ.
Doha tháng 11 năm 2001? 159 thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, nông nghiệp, tiêu chuẩn lao động, môi trường, cạnh tranh, đầu tư, minh bạch, bằng sáng chế vv Vòng chưa được kết luận. Bali trọn gói đã ký vào 07 tháng 12 năm 2013.
Vòng Annecy: 1949

Vòng thứ hai diễn ra vào năm 1949 tại Annecy, Pháp. 13 quốc gia đã tham gia vào vòng. Trọng tâm chính của các cuộc đàm phán đã được cắt giảm thuế nhiều hơn, khoảng 5.000 trong tổng số.
Torquay Vòng: 1951

Vòng thứ ba xảy ra ở Torquay, Anh vào năm 1950 Ba mươi tám quốc gia đã tham gia vào vòng. 8700 cắt giảm thuế đã được thực hiện với tổng số tiền còn lại của thuế đến ¾ của thuế quan, đã có hiệu lực vào năm 1948 Sự từ chối đương thời của Hoa Kỳ của Hiến chương Havana biểu thị sự thành lập của GATT như một cơ quan quản lý trên thế giới. [3]
Geneva tròn: 1955-1959

Vòng thứ tư trở lại Geneva vào năm 1955 và kéo dài cho đến tháng năm 1956 Hai mươi sáu quốc gia tham gia vòng. 2,5 tỷ USD thuế quan đã được loại bỏ hoặc giảm.
Dillon tròn: 1960-1962

Vòng thứ năm xảy ra một lần nữa tại Geneva và kéo dài 1960-1962. Các cuộc đàm phán đã được đặt tên sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ và cựu trưởng Bộ Nhà nước, Douglas Dillon, người đầu tiên đề xuất các cuộc đàm phán. Hai mươi sáu quốc gia tham gia vòng. Cùng với việc giảm hơn $ 4900000000 thuế hiện hành, nó cũng mang lại những cuộc thảo luận liên quan đến việc thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC).
Kennedy tròn: 1962-1967

Vòng thứ sáu của GATT đàm phán thương mại đa phương, được tổ chức từ năm 1963 đến năm 1967 Nó được đặt tên sau khi Tổng thống Mỹ John F. Kennedy để ghi nhận sự ủng hộ của mình cho việc tái lập chương trình nghị sự thương mại Hoa Kỳ, mà kết quả trong Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962. Đạo luật này cho Tổng thống chính quyền chưa từng có rộng đàm phán.

Như Vòng Dillon đã trải qua quá trình mất thời gian của mục-by-mục đàm phán thuế quan, nó trở nên rõ ràng, rất lâu trước khi kết thúc vòng, một cách tiếp cận toàn diện hơn là cần thiết để đối phó với những thách thức nảy sinh từ sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và EFTA, cũng như tái xuất hiện ở châu Âu như là một nhà kinh doanh quốc tế quan trọng nói chung.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Nhật Bản báo trước các vai trò quan trọng nó sẽ chơi sau đó là một nước xuất khẩu, nhưng tâm điểm của vòng Kennedy luôn luôn là mối quan hệ Hoa KỳEEC. Trên thực tế, đã có một cái nhìn Mỹ có ảnh hưởng nhìn thấy những gì đã trở thành vòng Kennedy là khởi đầu của sự hợp tác xuyên Đại Tây Dương mà cuối cùng có thể dẫn đến một cộng đồng kinh tế xuyên Đại Tây Dương.

Để một mức độ nào đó, quan điểm này đã được chia sẻ ở châu Âu, nhưng quá trình thống nhất châu Âu tạo áp lực riêng của mình, theo đó Vòng Kennedy vào những thời điểm đã trở thành một trọng tâm thứ cho EEC. Một ví dụ của việc này là quyền phủ quyết của Pháp vào tháng Giêng năm 1963, trước khi vòng thậm chí đã bắt đầu, vào thành viên của Vương quốc Anh.

Một là cuộc khủng hoảng nội bộ năm 1965, kết thúc vào Thỏa hiệp Luxembourg. Chuẩn bị cho vòng đàm phán mới đã ngay lập tức bị lu mờ bởi cuộc chiến tranh , một dấu hiệu sớm của tác động tiền biến theo chính sách nông nghiệp chung cuối cùng sẽ . Một số người tham gia Vòng đã lo ngại rằng việc triệu tập các UCTAD, dự kiến ​​năm 1964, sẽ dẫn đến biến chứng hơn nữa, nhưng tác động của nó đối với các cuộc đàm phán thực tế là tối thiểu.

Trong tháng 5 năm 1963 Bộ trưởng đạt được thỏa thuận vào ba mục tiêu đàm phán cho vòng:

(a) Các biện pháp để mở rộng thương mại của quận phát triển như một phương tiện thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế của họ,

(b) giảm hoặc xóa bỏ thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại,

(c) Các biện pháp tiếp cận thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp và tiểu học khác.

Giả thuyết làm việc cho các cuộc đàm phán thuế quan được cắt giảm thuế quan tuyến tính của 50% với số lượng nhỏ nhất của trường hợp ngoại lệ. Một lập luận được rút rara phát triển về tác động thương mại cắt giảm tuyến tính thống nhất sẽ có trên giá phân tán (mức thuế cao và thấp khá xa nhau) của Hoa Kỳ so với giá nhiều hơn nữa tập trung của EEC cũng có xu hướng được các tổ chức thấp hơn mức thuế Hoa Kỳ.

EEC lập luận phù hợp cho một buổi tối ra hoặc hài hòa hóa các đỉnh và đáy của nó thông qua cerement, giỏ đôi và ba mươi: mười đề xuất. Một khi các cuộc đàm phán đã được tham gia, các giả thuyết làm việc cao cả đã sớm suy yếu. Các quốc gia đặc biệt cấu trúc (Úc, Canada, New Zealand và Nam Phi), gọi như vậy vì xuất khẩu của họ đã giúp nguyên liệu thô và các hàng hóa cơ bản khác, đàm phán cắt giảm thuế quan của họ hoàn toàn thông qua các phương pháp mục-by-mục.

Cuối cùng, kết quả là một giảm trung bình 35% thuế quan, trừ dệt may, hóa chất, sắt thép và các sản phẩm nhạy cảm khác; cộng với 15% đến 18% giảm thuế quan đối với nông nghiệp và thực phẩm. Ngoài ra, các cuộc đàm phán về các hóa chất dẫn đến một thỏa thuận tạm thời về việc bãi bỏ Mỹ Giá bán (ASP). Đây là một phương pháp xác định giá trị của một số hóa chất được sử dụng bởi các nước nổi tiếng về việc áp thuế nhập khẩu cho sản xuất trong nước một mức độ cao hơn rất nhiều bảo vệ hơn so với biểu thuế chỉ định.

Tuy nhiên, một phần của kết quả đã không được phép của Quốc hội, và Mỹ Giá bán không được bãi bỏ cho đến khi Quốc hội đã thông qua kết quả của Vòng đàm phán Tokyo. Kết quả tổng thể về nông nghiệp là những người nghèo. Thành tích đáng chú ý nhất là thỏa thuận về một bản thỏa thuận về yếu tố cơ bản cho đàm phán của một sắp xếp thế giới tài trợ, mà cuối cùng được cuộn lại thành một Bố trí Ngũ cốc Quốc tế mới.

EEC tuyên bố rằng cho kết quả chính của các cuộc đàm phán về nông nghiệp là họ rất đã xác định được chính sách chung của chính mình. Các nước đang phát triển, những người đã đóng một vai trò nhỏ trong suốt các cuộc đàm phán trong Vòng này, dù sao cũng được hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế đáng kể đặc biệt là ở các mặt hàng phi nông nghiệp quan tâm đến họ.

Thành tựu chủ yếu của họ vào thời điểm đó, tuy nhiên, được xem là việc thông qua Phần IV của Hiệp định GATT, trong đó miễn không có đi có lại theo chúng từ các nước phát triển trong đàm phán thương mại. Theo quan điểm của nhiều nước đang phát triển, đây là một kết quả trực tiếp của cuộc gọi tại UNCTAD tôi cho một thỏa thuận thương mại tốt hơn cho họ.

Đã có tranh luận kể từ khi xem cử chỉ tượng trưng này là một chiến thắng cho họ, hoặc cho dù đó đảm bảo loại trừ của họ trong tương lai từ sự tham gia có ý nghĩa trong hệ thống thương mại đa phương. Mặt khác, không có nghi ngờ rằng phần mở rộng của Thỏa thuận dài hạn về Thương mại quốc tế Dệt may bông, mà sau này đã trở thành Bố trí nhiều chất xơ, trong ba năm cho đến năm 1970 đã dẫn đến sự suy giảm dài hạn của các cơ hội xuất khẩu nước đang phát triển.

Một kết quả của Vòng đàm phán Kennedy đã thông qua một luật chống bán phá giá, trong đó đưa ra hướng dẫn chính xác hơn về việc thực hiện Điều VI của GATT. Đặc biệt, nó tìm cách để đảm bảo điều tra nhanh chóng và công bằng, và nó áp đặt giới hạn về áp dụng hồi tố các biện pháp chống bán phá giá.

Kennedy đã diễn ra Vòng 1962-1967. 40 tỷ USD thuế nhập khẩu được loại bỏ hoặc giảm.
Vòng đàm phán Tokyo: 1973-1979

Giảm thuế quan và thành lập các quy định mới nhằm kiểm soát sự gia tăng của các hàng rào phi thuế quan và hạn chế xuất khẩu tự nguyện. 102 quốc gia đã tham gia vào vòng. Nhượng được thực hiện trên $ 190.000.000.000 giá trị.
Vòng đàm phán Uruguay: 1986-1994

Vòng đàm phán Uruguay bắt đầu vào năm 1986 Đây là vòng tham vọng nhất cho đến nay, hy vọng sẽ mở rộng thẩm quyền của GATT các khu vực mới quan trọng như dịch vụ, vốn, sở hữu trí tuệ, hàng dệt may và nông nghiệp. 123 quốc gia đã tham gia vào vòng. Vòng đàm phán Uruguay cũng là tập đầu tiên của các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong đó các nước đang phát triển đã đóng một vai trò tích cực. [4]

Nông nghiệp được cơ bản miễn thỏa thuận trước đây vì nó đã được đưa ra tình trạng đặc biệt trong các lĩnh vực hạn ngạch nhập khẩu trợ cấp xuất khẩu, chỉ cẩn thận nhẹ. Tuy nhiên, đến thời điểm vòng đàm phán Uruguay, nhiều quốc gia coi là ngoại lệ của ngành nông nghiệp đủ rõ ràng rằng họ đã từ chối ký hợp đồng mới mà không có một số chuyển động trên các sản phẩm nông nghiệp. Những mười bốn quốc gia được biết đến như là “Thành phố Cairns Group”, và bao gồm chủ yếu là các nhà xuất khẩu nông nghiệp có kích thước vừa và nhỏ như: Úc, Brazil, Canada, Indonesia và New Zealand.

Hiệp định Nông nghiệp của Vòng đàm phán Uruguay tiếp tục là thỏa thuận tự do thương mại lớn nhất trong các sản phẩm nông nghiệp trong lịch sử của các cuộc đàm phán thương mại. Mục tiêu của thỏa thuận này để cải thiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp, giảm hỗ trợ trong nước của ngành nông nghiệp trong các hình thức trợ giá bóp méo và hạn ngạch, loại bỏ trợ cấp xuất khẩu trong thời gian trên các sản phẩm nông nghiệp và hài hòa trong phạm vi các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật có thể có giữa các nước thành viên.
GATT và Tổ chức Thương mại Thế giới
Bài chi tiết: Vòng đàm phán Uruguay

Năm 1993, GATT đã được cập nhật (GATT 1994) bao gồm các nghĩa vụ mới sau khi của mình. Một trong những thay đổi đáng kể nhất là sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 75 thành viên GATT hiện có và Cộng đồng Châu Âu đã trở thành thành viên sáng lập của WTO vào ngày 01 tháng một năm 1995 52 thành viên khác của GATT tái gia nhập WTO trong hai năm tiếp theo (cuối cùng Congo vào năm 1997). Kể từ khi thành lập của WTO, 21 thành viên mới không GATT đã tham gia và 29 thành viên hiện đang đàm phán. tổng số 159 quốc gia thành viên của WTO, với Lào và Tajikistan là thành viên mới của năm 2013.

Trong số các thành viên ban đầu của GATT, Syria [5] [6] SFR Yugoslavia đã không tái gia nhập WTO. Kể từ FR Nam Tư, (đổi tên thành Serbia và Montenegro các cuộc đàm phán thành viên sau chia đôi), không được công nhận là một nhà nước trực tiếp kế SFRY; Do đó, ứng dụng của nó được coi là một (không GATT) mới nhất. Hội đồng chung của WTO, trên 04 tháng 5 năm 2010, đồng ý thành lập một nhóm công tác để kiểm tra theo yêu cầu của Syria gia nhập WTO. [7] [8] Các bên ký kết hợp đồng, người sáng lập WTO kết thúc thỏa thuận chính thức của GATT 1947” các điều khoản ngày 31 tháng 12 năm 1995 Montenegro đã trở thành một thành viên trong năm 2012, trong khi Serbia đang trong giai đoạn quyết định của các cuộc đàm phán và dự kiến ​​sẽ trở thành một trong những thành viên mới nhất của WTO vào năm 2014 hoặc trong tương lai gần.

Trong khi GATT một bộ quy tắc thoả thuận của các quốc gia, WTO là một cơ quan tổ chức. WTO mở rộng phạm vi của nó từ hàng hoá kinh doanh bao gồm thương mại trong lĩnh vực dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù nó được thiết kế để phục vụ các thỏa thuận đa phương, trong nhiều vòng đàm phán của GATT (đặc biệt là Vòng đàm phán Tokyo) các thỏa thuận đa phương tạo ra giao dịch có chọn lọc và gây ra sự phân mảnh giữa các thành viên. Các thỏa thuận của WTO nói chung là một cơ chế giải quyết hiệp định đa phương của GATT. [9]

4 comments on “CXN_080914_5908_Thằng Phạm Chí Dũng này không những ngu xuẫn và dốt nát mà còn là thằng xạo bà cố nữa: TPP cho VN: Thời gian không phải vô hạn

  1. Trẹm xin comment bài này,trật bài xin các bạn thứ lỗi!(có PCD là Trẹm rủa cho nó mau chết)
    Vai trò của thằng oắt con cs nòi PCD hiện nay giống như hồ chó minh sau 30/4/1975 mà tụi cs hay tuyên truyền với dân miền Nam.
    Có nghĩa là bất cứ lĩnh vực nào thì tụi cs cũng mở hết loa để Pr cho thằng nầy để các hảng truyền thông nước ngoài thấy đó là người tài năng,kinh bang tế thế.
    Các bạn ai cũng quá rành lối tuyên truyền bịp bợm của tụi cs.
    Chỉ có người ngu như mấy thằng dân chủ cuội mới tin thắng Dũng là tài năng.
    cá nhân Trẹm,đọc nhiều bài p.vấn của các hảng truyề thông nước ngoài với cs PCD mà thấy thương hại cho cái dốt mà tài lanh(chỉ vì sự chỉ đạo của ANcs).
    Phải nói thằng Dũng dót nát về một số khía cạnh xã hội(đọc bài cũ của CXN thì rõ),nhưng lại quá tải về năng lực…giống như ếch lại muốn to bằng bò.Trẹm xin phép được ví von như thế để khỏi dẫn chứng dái quá(cái này phải bái anh Châu triệu lần với những bài viết công phu)

    Like

    • Nói lại cho rõ:”Phải nói là thằng PCD dốt nát kiến thức một số lĩnh vực về Xã hội nhưng lại quá tải về nhiệm vụ vì năng lực thằng nầy hạn chế.Ngặt nổi,vì nhu cầu cấp bách,sự sống còn của chế độ nên tụi cs buộc lòng phải dùng con bài PCD trong sứ mệnh thâu tóm phong trào dân chủ.

      Like

  2. Đánh CS đã tốn nhiều công sức a.Châu và A.C.E nay phải đánh thêm cowboy PCD mệt ghê,nhưng tại sao phải đánh nó,không đánh nó là nó biến thành CS hậu CS thì dân VN còn khổ thiên thu.

    Like

    • Đánh PCD chính là đánh CS đấy, nhưng khó hơn vì nó ẩn dụ, mình phải vạch mặt nó ra mới dc, còn 3D, DCS thì quá dễ, chỉ lấy thông tin trên mạng là dc ngay
      AC

      Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s