Tổng thống Philippines ‘mắng’ Barack Obama là “đồ khốn nạn”

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/tong-thong-philippines-mang-barack.html

06 tháng 9 năm 2016

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bị Tổng thống Philippines gọi là “đồ khốn nạn” bằng tiếng địa phương trong một cuộc họp báo ở Davao hôm 05/09. Ông Rodrigo Duterte cảnh báo Tổng thống Obama không nên chất vấn ông về các vụ giết hại không qua xét xử, nếu không thì, “đồ khốn nạn, tôi sẽ chửi vào mặt ông”.

Tổng thống Barack Obama và Tổng thống Philippines Duterte

Continue reading

Nga ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/nga-ung-ho-trung-quoc-trong-van-e-bien.html

06 tháng 9 năm 2016

Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 5/9 tuyên bố sự can thiệp của một cường quốc bên ngoài khu vực vào tranh chấp Biển Đông chỉ có thể gây trở ngại cho giải pháp của vấn đề.

Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu trong một cuộc họp báo sau khi kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh G-20 ở Hàng Châu, Trung Quốc, ngày 5 tháng 9 năm 2016.
Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu trong một cuộc họp báo sau khi kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh G-20 ở Hàng Châu, Trung Quốc, ngày 5 tháng 9 năm 2016.

Continue reading

“Né” sân golf là nguyên nhân gây tắc nghẽn, ngập sân bay Tân Sơn Nhất?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/ne-san-golf-la-nguyen-nhan-gay-tac.html

06 tháng 9 năm 2016

Theo báo Tuổi trẻ ngày 04/09, để giải quyết nạn tắc nghẽn tại khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, mới đây liên danh nhà đầu tư gồm Tổng công ty 319 (Bộ Quốc phòng), Công ty TNHH dịch vụ thương mại, sản xuất, xây dựng Đông Mêkong và Công ty Cổ phần hạ tầng Đông Á đề xuất dự án xây dựng hệ thống đường trên cao kết nối sân bay Tân Sơn Nhất (Q.Tân Bình) với đường Nguyễn Văn Trỗi – Hoàng Văn Thụ (Q.Phú Nhuận) theo hình thức đầu tư PPP (nhà nước và tư nhân hợp tác) nhằm giải quyết ùn tắc giao thông ở khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, dự kiến vốn đầu tư khoảng 3.500 tỷ đồng.

Kẹt xe, nhiều người phải chạy bộ vào nhà ga để kịp giờ bay là hình ảnh thường xuyên ở sân bay Tân Sơn Nhất.
Cổng vào sân bay kẹt cứng, nhiều người phải chạy bộ vào nhà ga để kịp giờ bay là hình ảnh thường xuyên ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Continue reading

Bắt đầu “sờ” đến Petrolimex: Phanh phui hàng loạt khuyết điểm, vi phạm

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/bat-au-so-en-petrolimex-phanh-phui-hang.html

06 tháng 9 năm 2016

Đầu tư hàng nghìn tỷ đồng ngoài ngành không đúng quy định, không có sự chấp thuận của Bộ Công Thương và Thủ tướng, cá nhân chiếm đoạt tài sản; quản lý không chặt chẽ trong kinh doanh, điều hành giá… là thực trạng ra tại Petrolimex và các đơn vị thành viên nêu trong Kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ.

Trụ sở Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam tại phố Khâm Thiên, Hà Nội
Trụ sở Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam tại phố Khâm Thiên, Hà Nội

Continue reading

Chuyện mộ kết: không tin sẽ có họa to?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/chuyen-mo-ket-khong-tin-se-co-hoa-to.html

06 tháng 9 năm 2016

“Tôi đã bảo rồi mà chúng nó không tin, bây giờ thì có họa to rồi”, ông Long, 67 tuổi, sống ở Thủy Nguyên, Hải Phòng luôn nói như vậy khi có ai hỏi đến chuyện mồ mả nhà bà Hoài, em dâu họ của ông. Chồng bà chết vì tai nạn vào đúng ngày Rằm, được chôn ở một vuông đất khá cao ráo.

Chuyên gia khoa học lý giải về chuyện mộ kết trong dân gian - Ảnh 1
Đâu đó trong dân gian vẫn lưu truyền các câu chuyện về huyệt mộ kết phát giúp cả một dòng họ trở nên sang giàu. Trong ảnh là mộ vua Trần ở Thái Bình.

Continue reading

Việt Nam đối phó thế nào trước “ván cờ siêu cường” Mỹ và Trung Quốc?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/viet-nam-oi-pho-nao-truoc-van-co-sieu.html

06 tháng 9 năm 2016

Việt Nam hiểu rõ tình thế bất đối xứng về địa lí: “Nước xa không cứu được lửa gần”. Trung Quốc ở ngay sát sườn còn Mỹ lại cách Việt Nam cả nửa vòng trái đất. Ông Nguyễn Tâm Chiến, cựu Thứ trưởng ngoại giao đã tâm sự: “Chúng tôi không chuyển nhà đi đâu được. Theo số liệu thì chúng tôi chỉ bằng một tỉnh của Trung Quốc”.

Lực lượng trinh sát đăc nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam
Lực lượng trinh sát đăc nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam

Continue reading

108Tv – Nóng: Công an Hà Đông lại cưỡng chế đất Dương Nội

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/108tv-nong-sang-692016-cong-ha-ong-tiep.html

06 tháng 9 năm 2016

Chính quyền Hà Đông cưỡng chế đất Dương Nội

108Tv – Sáng ngày 6/9/2016, công an, dân phòng, côn đồ bắt đầu tập trung rất đông tại khu vực cánh đồng Dương Nội để cưỡng chế đất đai. Hàng trăm công an và xe cộ lại đổ về đây chuẩn bị cưỡng chế những mảnh đất còn lại của nhân dân Dương nội. Continue reading

Đảng CSVN tồn tại được là nhờ sự vô cảm với chính trị của dân chúng?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/tran-nhat-phong-ang-csvn-ton-tai-uoc-la.html

06 tháng 9 năm 2016

Đảng “búa liềm” có tới cả ngàn lý do để “giữ quyền cai trị”, nhưng người dân thì chỉ có một lý do để có thể tiếp tục sinh tồn, đó chính là sự vô cảm với chính trị.

Mo%2Bhinh%2Bdon%2Bgian.jpg

Continue reading

Nhiều sinh viên phong trào dân chủ “Dù vàng” chiến thắng trong cuộc bầu cử ở Hồng Kô ng

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/nhieu-sinh-vien-phong-trao-dan-chu-du.html

06 tháng 9 năm 2016

Nathan Law , 23 tuổi, từng là lãnh đạo phong trào “Dù vàng”, và đồng sáng lập đảng Demosisto đắc cử vẽ vang, Hồng Kông 05/09/16

Kết quả kiểm phiếu hôm nay, 5 Tháng Chín, 2016, trong cuộc bầu cử ở Hồng Kông cho thấy nhiều nhà hoạt động dân chủ chống Trung Quốc đã chiến thắng. Điều này khiến làm gia tăng mối lo tiềm tàng của Trung Quốc từ bấy lâu nay, vì vòng đối đầu chính trị mới về quyền kiểm soát của Bắc Kinh trên đặc khu này đang được hình thành. Continue reading

Trịnh Xuân Thanh con dê tế thần (TXT)

Posted by adminbasam on 06/09/2016

Người Buôn Gió

5-9-2016

Phần 1: Xe biển xanh

Trong chiến trận giữa hai bên, lúc bắt đầu xuất quân, người ta hay chọn một thành yếu, tướng nhỏ để triệt hạ lấy tinh thần cho quân của mình. Câu chuyện chiếc xe biển xanh ở Hậu Giang cũng tương tự như vậy. Vận mệnh đen đủi đã giáng xuống đầu một tiểu tướng có tên là Trịnh Xuân Thanh, quan phó tỉnh Hậu Giang. Continue reading

ARVN: QLVNCH: QUÊ HƯƠNG VÀ NGƯỜI HUẾ (2 phần nhập 1)


https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1755537468015420&set=a.1380594875509683.1073741830.100006775504551&type=3&theater

Tri Nguyen with Maria Mon and 6 others.

23 February ·

( QUÊ HƯƠNG VÀ NGƯỜI HUẾ ) Phần 1 >

Tôi là người Huế, sinh ở Huế, nhưng không lớn lên từ đó, không có kỷ niệm, không nhung nhớ, không một mối tình. Giữa tôi và Huế là xa lạ, dửng dưng, không mong ước trở lại. Nhưng, tôi đã sinh ra ở đấy, đất đai đó là nơi trú ngụ đầu tiên. Và cũng chính trên mảnh đất này bạn bè tôi đã đánh những trận đầu tiên trong thành phố, những người bạn từ Sàigòn, từ một tỉnh miền Nam, từ miền Bắc di cư vào, họ đã chết lạnh lùng, bất ngờ nằm xuống giữa đám gạch xanh rêu không sinh khí. Vậy nên tôi phải viết về Huế. Viết cho tuổi thơ đã qua, lần trở lại bi thảm, viết về một mất mát, nhưng tôi cũng viết cho những tìm thấy thật cảm động. Cảm động rưng rưng nước mắt, cảm động của buổi tái ngộ oái oăm.

Khi lớn lên sau này, ai có hỏi… Người xứ nào… Tôi thường tần ngần một lúc. Sự ngập ngừng phát sinh từ những mù mờ về Huế. Tôi là người sinh ra ở đó, nhưng biết được gì trên thành phố ấy, tên đường không thuộc, chùa Linh Mụ ra sao? Thế nào là con gái trường Đồng Khánh? Nhớ, nhớ lại một kỷ niệm xa nhất, những hình ảnh ghi nhận được, những điều còn sót lại trong vùng trí não mông mênh. Nhớ đến chỗ đầu tiên của hoài niệm tuổi thơ, tôi bốn hay năm tuổi gì đó… Cùng gia đình về Huế trong đêm khuya. Thuyền đi theo giòng sông, giòng sông đen, chiếc thuyền len lỏi qua hàng cây um tùm trên nước. Sông nào, tôi không biết. Cây gì, cây chà là. Sao lại cây chà là? Chắc hẳn đó là do bất chợt nghe đâu một lần nên tôi đặt tên cho những đám cây đêm đó là cây chà là. Thuyền ghé bến tôi lên bờ trên tay của cha, ôm chiếc chiếu trong lòng. Tôi về Huế lần đầu tiên, tôi đến trong đêm, trên giòng sông. Trí nhớ nào đủ để ghi lại vài hình ảnh mông lung như mặt nước lên tâm hồn trẻ nhỏ… Và đi ra khỏi Huế sau hai năm. Tôi còn lại hình ảnh nào nữa? Những buổi chiều cuối năm gió rét, thổi qua những con đường phố im vắng, hình ảnh một bà già lưng còng, còng xuống thật thấp, bán giò chả, tiếng rao lê dài qua khu phố theo gió đi xa, lành lạnh tái tê. Buồn hơn cả mùa đông. Thế là hết kỷ niệm của Huế. Còn gì nữa không? Chẳng còn gì hơn hình ảnh cô gái nhỏ cùng tôi chơi chiếc xe hai bánh, gồm bàn đạp, tay lái, chân để trên bàn đạp, chân chống xuống đất và chúng tôi thay phiên đẩy vào lưng nhau để tăng tốc độ. Tốc độ của đôi chân trẻ thơ nhưng quá nhanh trên mặt đường lồi lõm đá; đường không người, hai hàng phố cửa đóng, vẽ hoang tàn hậu chiến, nét linh động chỉ là hai chúng tôi… Thế là hết và tôi đi xa, xa về miền Nam, Huế đó tôi trả lại cho người, tôi về miền có biển có núi. Huế không có biển. Ở biển chúng ta nghe được thằng cuội chặt củi ở trên cung trăng. Một thằng bạn nhỏ khu xóm nghèo đường Gia Hội đã nói như vậy. Tôi đến vùng có biển và lớn lên từ những nơi này. Huế không có biển và tôi yêu biển biết bao nên xứ Huế được lãng quên.

Đà Nẵng và Nha Trang, thành phố bốn bề là biển, biển trước mặt, biển sau lưng, rẽ qua trái ra biển, rẽ qua phải đến sông, sông cũng dẫn ra biển, ngồi trong nhà gió biển lọt vào, rịn mùi muối trên da tay, đêm mùa đông nghe tiếng sóng cuồng nộ từ xa tưởng chừng như sóng xô đẩy lại kéo trôi phăng thành phố. Thịt bò khô ở Nha Trang, con ghẹ tươi luộc ở bờ biển Đà Nẵng đối với tôi là những món ăn ngon nhất, quyến rũ nhất và đáng nhớ biết chừng nào. Chạy nhảy trên những hòn đá ở Tiên Sa, hà cắt đứt bàn chân, vết thương tươi đỏ đầy máu không tạo thành đau đớn, chỉ nhức nhức nhẹ nhàng, ngâm xuống nước mặn thành xót cay, nồng nàn như tuổi mới lớn, như tình yêu ước vọng của năm mười sáu, mười bảy… Máu chảy hòa nước biển, nước biển theo vết thương ngấm vào máu thịt, người như hạt muối được hong khô dưới mặt trời. Tôi ham mê đùa giỡn cùng sóng nước, giữa khung trời xa tít không biên giới với luồng gió có hương ngát từ khoảng không trên ngọn hải đăng ở Đà Nẵng; tháp hải đăng xây bằng đá, xanh mướt, trơn bóng vì rêu phủ, gió bào, muối sát, dõi luồng sáng xanh chỉ có ở giấc mơ. Gió từ bốn phía ào ào, lau ngã nghiêng theo tám hướng. Tôi sống, lớn lên, yêu đời, yêu quê hương từ đó. Từ những nơi có gió. Từ một chỗ nào xa xăm tận cùng trời đất.

Đà Lạt nét đẹp não nùng, tưởng chừng như một nốt nhạc ngân hoài không dứt. Đà Lạt đẹp, thành phố, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở đẹp nhưng phải đến Ankroet, trèo lên ngọn núi đằng sau nhà máy nước nhìn xuống thác Vàng, thấy cả trời đất hòa chung dưới đáy. Hồ Ankroet trong vắt như thủy tinh, xanh tươi hơn tận cùng ý niệm, nằm trong lòng núi như một chiếc gương yên lặng khẽ gợn vì gió, vì sương đọng, vì núi nghiêng hay vũ trụ đang xoay, hay do người đang rơi vào ảo giác… Trời ở trên, trời cũng dưới đáy hồ im lặng! Có tiếng động… Không, chẳng có gì, lá thông rãi, cỏ đang mọc hay nước hồ đang nở… Nào ai biết, không ai biết gì của thiên nhiên im lặng đó chỉ nhìn và nhìn tận cùng với hết con người. Trong vòng tay của núi và biển, tôi đi xa Huế vô cùng. Huế của đêm tối hồi cư, dòng sông đen đe dọa của tuổi thơ làm sao kéo được tâm hồn tôi trở lại.

Bây giờ là năm 1967. Chiến tranh đầy trên quê hương như đàn ruồi trên đống rác. Tôi đang ở Sàigòn. Ôi Sàigòn, làm sao thấy được mặt trời mọc lúc nào, lặn ở đâu. Đâu bốn hướng đông, tây, nam, bắc… Thế nào là màu xanh, súc vật nuôi trong nhà, màu xanh tím và hơi mát khu đường Cường Để, vùng nhà thương Grall trông tội nghiệp, vá víu giả dối và còm cõi! Sàigòn với một khoảng thiên nhiên mơ mộng của xa lộ, vài cây dừa xơ xác, một dẫy đất hoang cỏ mọc úa vàng bị đóng khung bởi Cát Lái, Thủ Đức, Bình Lợi…

Việt Nam 1967, tôi lính chiến như một thanh mã tấu cùn rĩ, ném vào trong một đống rác vĩ đại. Đà Nẵng thì hết rồi biển Thanh Bình, hàng cây dương mới lớn của mười năm về trước nay cằn cỗi vướng vít kẽm gai bao bọc trại lính. Bờ biển thuở xưa có cái lô-cốt bị chìm bây giờ đầy nhà cửa. Thôi còn gì nữa đâu, hết cả khoảng trời xanh, tiếng sóng vỗ cuồng bạo vào bờ đêm mùa đông, biển tối âm u, hàng đường liễu ngập nước như một khu rừng nổi… Tất cả không còn gì nữa, núi Tiên Sa, Mỹ đặt đài radar, con đường lên núi đỏ thẩm giữa màu xanh của lá như một vết thương chưa khép. Vị tiên nào đã sa xuống vùng núi hoang vu tuổi trẻ của tôi ngày xưa chắc bây giờ đã lăn lóc chiếc cánh bên cạnh đống vỏ bia. Tôi còn được một vùng thơ mộng nào trong quê hương?

Trong thời gian này tôi trở về Huế. “Trở về”. Sao lại dùng chữ này? Phải đi thì mới gọi trở về. Hay tôi đang trở về quê cũ? Chiếc C-130 xuống phi trường Phú Bài vào buổi chiều mưa mờ mặt. Ôi mưa, mưa đúng nghĩa của mưa, mưa đầy mặt, mưa cách nhau khoảng năm mươi thước không trông thấy, mưa không rõ hạt, chỉ một màn nước dày bao trùm cảnh vật. Tất cả xám xám ốm yếu thê lương, không chân trời, không hàng cây, không nhà cửa. Tất cả dựng khối đen lù mù im nín, không một hoạt động tồn tại, tan biến lặng lờ dưới sức nặng dị thường của hạt mưa. Mưa từ bao giờ? Hỏi người bạn đơn vị đã ra trước. Lâu lắm rồi, cả tuần nay. Không tạnh? Tạnh sao nổi. Mưa khắp nơi như từ một khoảng không bốc hơi và vạn vật đang tan thành nước. Tôi bước xuống trong vũ trụ lạnh tanh đó. Người biến vào mênh mông.

Mưa Huế ào ào phủ xuống đầu chúng tôi khi từ máy bay chạy nhanh vào trạm hàng không. Ai đã ghét mưa Huế vì phải chịu đựng nó quá nhiều, chắc tôi cũng ngao ngán vô cùng khi đi dưới cơn mưa nước ruộng ngập đến háng và bùn gần đến đầu gối từ Quảng Điền lên Phong Điền. Nhưng bây giờ mưa Huế đang chung quanh tôi, mưa của quá khứ, của tuổi thơ, tuổi lớn đang hòa vào nhau trì chậm, quay đều trong một không gian im lặng…

Huế đón tôi trong cơn mưa, tôi lên xe trở vào thành phố, ra lại ngoại ô, đóng quân ở một làng có cái tên độc đáo, đặc biệt nhất của Việt Nam – Sịa. Sịa là gì? Là sình đọc trại? Không phải, cái tên đặc biệt, âm vang như một nốt nhạc lạ. Sịa, tôi sẽ hoài hoài nhớ, hoài hoài thắc mắc sao quê hương ta có những địa danh vừa kỳ cục vừa lạ lùng, quê mùa nhưng không thô, mộc mạc, bình dị và độc đáo! Ở đâu có Sịa? Chắc chỉ có Huế và đúng chỉ là có Huế.

Hành quân, mục tiêu 1,2,3… Đại đội 91, 92 chiếm 1 và 2 xong đợi ở đấy, làm blocking-force về hướng đông để đại đội 94 chiếm mục tiêu 3… Mục tiêu 3, tôi nhìn vào bản đồ: Đồng Xuyên, làng Đồng Xuyên khu xóm nhỏ phía tây giáp ruộng, phía đông cồn cát. Sau cồn cát là gì? Phá Tam Giang. Phá thì lạ lắm, nhưng phá Tam Giang đã rất quen biết, lớp ba hay lớp nhì, ai chẳng một lần đã ê a trong “Tập Đọc Vui” hai mươi năm về trước. “Đường vô xứ Huế quanh quanh. Non sông nước biếc… Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Phá Tam Giang là tuổi thơ thứ mười của tôi. Tuổi nhìn đời đầy dẫy những câu hỏi: Tại sao đã yêu em nhưng lại không muốn vô? Đấy, phá Tam Giang tôi đã quen thuộc với nó lâu hai mươi năm rồi còn gì nữa? Phá Tam Giang, nỗi mơ mộng đầu tiên của tôi, vùng thần thánh của những lần rung cảm ngây ngất khi đọc đến: “Yêu em anh cũng muốn vô…” Đi dọc theo bờ của phá, bên trái Dãy Phố Buồn Thiu, nơi B. Fall vừa chết tuần trước; người thông thuộc biến cố của Việt Nam nhiều nhất trong vòng hai mươi năm qua, nay vì trái nổ oan khiên bỏ lại đời đằng sau.

Dọc theo phá, đi hoài, đi mãi… Giữa trời đất bao la, ảnh bao la giăng giăng u uất, không rộng rãi của biển, xanh thẫm của núi, đây là hoang vu tiền sử, cỏ úa xanh nâu trãi dài đến chân trời. Bồ nông, hạc, hải âu bay từng đàn nặng nặng, buồn buồn, chim bay như cố gắng, như thở dài, như hấp hối… Bay một đoàn đầy trời, rồi cả đàn cùng dừng lại, tiếp tục bay đi, không phương hướng, không ào ạt, không khỏe, không hùng; đàn chim loang lỗ, đen trắng thấp thoáng trên cỏ khô, lúa mục. Đây là hoang vu sao lặng gió, con phá rộng mông mênh không bờ bãi, không vết sóng, chỉ một cánh buồm không no gió… Phải chăng buồm hoang, thuyền ma. Trời xám, cỏ xám, con sóng nhỏ, cánh buồm phiền, đàn chim mệt mỏi… Đây là cảnh gần tàn, đời sắp đóng, trời đất âm u để sửa soạn cho lần đổ nát. Bây giờ mới thấy Nha Trang quá trẻ trung, Đà Lạt quá sang trọng, Sàigòn còm cõi không sinh khí. Đây mới là khuôn mặt thật của quê hương. Tôi nghĩ vậy. Câm nín, u uất, nặng trĩu buồn rầu. Quê hương ta, khuôn mặt thật chắc là đây. Lên đến Phong Điền nhìn lại bản đồ, mười bảy cây số đường chim bay. Người nát rời từng mảnh , trời rét nhưng người quá dơ,bùn từ tóc, từ mặt, bám đầy trong hốc mũi, trong tai, bùn rơi từ cái dụi mắt, chớp mày. Xuống bến sông, bên kia là Quảng Trị, bên này là Thừa Thiên, sông chảy ra phá Tam Giang, sông chảy từ Quảng Trị vào, từ núi ra, một nhánh nhỏ của sông Ô Lâu, nhưng đến đây chảy qua Mỹ Chánh sông mang tên khác. Hỏi cô giáo. Cô giáo thẹn như cô gái mới lớn, cô giáo mặc áo đen quần trắng, áo len đen, da trắng mát tự nhiên, môi đỏ hồng, mắt thật xanh. Cô giáo bao nhiêu tuổi? Dạ hai mươi lăm. Sông gì? Dạ thưa, sông Thu Rơi! Sông Thu Rơi. Tôi cười… Cô nói đùa hay thật. Dạ thưa sông Thu Rơi. “Dạ thưa sông Thu Rơi”. Tôi rưng rưng cảm động. Ai đã đối thoại với lính lễ độ, kính nể đến như vậy. Sông mang tên Thu Rơi, tên thật thường nhưng chất ngất lãng mạn và đôn hậu, dân làng đã nghĩ sao khi chấp nhận tên này. Phải chăng là thi sĩ? Phải chăng tên đã thành tự nhiên như câu hò, câu hát.

Ngược đường về, từ mục tiêu 15 trở lại mục tiêu I, ấp Đồng Xuyên, ấp Mỹ Xá, đã đọc đi đọc lại nhiều lần từ bao nhiêu ngày trên bản đồ, đã đi qua bốn ngày trước, nay trở lại sao lòng nôn nao cảm động — Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Đúng rồi! Nơi chốn này thuở xưa mẹ tôi đã một lần đi đến, sau lệnh tổng phản công của Việt Minh năm bốn mươi sáu “Vỡ mặt trận rồi chạy về Đồng Xuyên, Mỹ Xá, sau đó mạ gánh con về ở tại Gia Lê”. Mẹ tôi thường hay nói vắn tắt như vậy để trả lời cho tôi mỗi khi tôi hỏi về những biến cố của “Vỡ mặt trận…”. Tôi nhớ mãi nhớ hoài mẹ tôi với câu nói đó. Bà hay nói những chữ Huế mà những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi, hàng xóm phải ngẩn ngơ không biết. Mẹ tôi là người Huế, nơi này bà đã gánh tôi một đầu đòn gánh, đầu kia áo quần, soong chảo trên cánh đồng này hai mươi hai năm trước, chân trần tay lấm, cong chiếc lưng học trò mảnh mai để gánh tôi băng qua những đồi cát mênh mông bắt đầu từ Mậu Tài ra đến Đồng Xuyên, Mỹ Xá… Nơi này, cha mẹ tôi đã thương yêu nhau trong cảnh chết, tiếng nổ trên đầu, viên đạn rạch không khí bay xuyên tim người dưới đất. Nơi này cha mẹ tôi đã lấy sức mạnh xác thân và tình thương mang tôi qua gió bão…

Hôm nay, mùa đông 1967, tôi đi qua, trên đất như có hồn, cỏ có dấu vết, biết đâu mẹ tôi đã ngừng ở đây, lấy nón quạt cho tôi, cha tôi đã cúi mình trên bờ mẫu để gạn lấy phần nước trong mát nhất cho con. Giòng nước luôn trôi chảy, mẹ cha làm sao biết được hơn hai mươi năm sau đứa con trở lại một lần nhìn xuống để thấy gương mặt thật của mình trên suối dòng bất diệt quê hương.

Về Huế, nghỉ quân đóng ở Nam Giao, nơi thuở xưa vua nhà Nguyễn tế lễ trời đất. Trăng mùa đông huyền bí dọi sáng xanh nhạt thếch xuống một vùng cổ mộ… Emile Bronte, Dostoiesky, Mai Thảo, Võ Phiến, rải dài trên tác phẩm bóng dáng quê hương họ thương yêu, hoài niệm, nếu không phải ca ngợi nồng nàn, thì cũng là bối cảnh cho những tình yêu, thù hận, hay điều ám ảnh. Tôi không là nhà văn, nhưng nếu có chọn lựa tôi sẽ viết về Huế trong tác phẩm của mình. Lạ lùng lắm, bí ẩn lắm, ngôi mộ nằm yên dưới bóng thẩm cây tùng, cây thông, trăng soi xuống, gạch đá như thở, như hấp hối thì thầm, rầu rĩ. Sông Hương đứng từ ngọn đồi lăng Khải Định nhìn xuống, không phải là sông của nước chảy, nhưng là núi xô nhau đi về nơi xa, sức xô đẩy lả lơi theo cỏ tranh, giăng giăng chập chùng đồi sim dại. Núi không cao, không phải núi, gọi là đồi mới đúng, không cây cỏ chỉ có toàn một thứ đá nâu lớn bằng ngón chân. Đồi trùng điệp nối dài, nắm tay nhau, dựa vai vào nhau, chuyển động nô đùa trên mặt nước. Vua Gia Long chọn Huế thật phải, sông có, núi có, rừng thưa, rừng mới lớn chạy bước nhỏ dưới chân đồi như bầu bạn. Và đằng xa kia, xa ở chân trời… Biển… đủ hết,cả bốn mùa thời gian, cả vóc dáng thế giới hợp vào đây, không lớn, không vĩ đại, không ồn ào, nhỏ và xinh như non bộ, giả sơn. Như cảnh mơ của em bé.

Dừng xe trên đồi, tắt máy, tắt đèn, đốt điếu thuốc nhìn xuống dòng sông, thả khói bay vào núi, bay xuống mặt nước xám mờ, sương lạnh, mưa sa hạt nhỏ… Có ai hỏi gì bây giờ, chỉ xin im lặng như cơn thở than trầm mặc… Vì tiếng hò đã cất lên. Tiếng hò xua nhau như sóng nhỏ vướng phải bụi bờ chìm xuống nghe thê thảm, quá đỗi buồn rầu. “À… ơ… Ai về Đại Lược.” Chữ “lược” xuống thật thấp như cố nuốt tủi hờn, chặn giòng nước mắt, che dấu cô đơn. À… ơ… Không thêm một chữ nào có ý nghĩa, chữ “ơ” đưa lên cao từ từ rồi mất vào với gió với trăng, làm rợn những gai ốc trên da thịt. Hò như thế mới gọi là hò, Nam Ai như thế mới đủ năng lực diễn tả hết nỗi buồn rầu chất chứa toàn thể đời người phổ vào những tiếng à, tiếng ơi vô nghĩa. Một phút, hai phút trôi qua, thuyền đi được khoảng sông, câu hò chỉ được bốn chữ “à, ơ” ngân dài trên nước, oan uổng thê lương dật dờ như thây ma trôi sấp. Tôi nghe bằng tai nhưng hồn tôi ai đem treo trên đầu ngọn gió, ai đem ướp dưới đáy sông… Thật muốn khóc… Muốn rưng rưng nước mắt!! Sao có cảnh trầm mặc, sao tiếng hò thê lương, buồn đến thế này… Nguồn đau thương dân tộc đã mất những gì, còn lại những gì… Hay mãi mãi đổ vỡ tận cùng, không bao giờ sống lại…

Tôi ở Huế một tuần, bún nước, bún khô, bánh khoái, nem chua, ăn thật nhiều, thật ngon. Tôi vốn không thích ăn ngon, không coi trọng chuyện ăn uống. Lính tráng kham khổ quen cơm hẩm, dăm miếng thịt mỡ, vài cọng rau, bi-đông nước lã là xong bữa ăn. Bao nhiêu năm tôi không có dịp để chọn món ăn. Về đến Sàigòn gặp gì ăn đó cho lạ miệng, ăn với bạn cho vui, không hề ham. Nhưng ở Huế ăn phải thích, ăn nữa không chán, ăn bao nhiêu bún cũng không vừa. Phải tới quán cho kịp giờ, trễ là hết, quá năm giờ tiệm bún ở đường ngang với đường Gia Hội nhất định hết. Người Huế lạ lùng như vậy, không thay đổi, không bị lôi cuốn. Mười năm trước vẫn một nồi bún, bây giờ cũng vậy, khách đông, khách chờ, khách đòi hỏi. Mặc! Hết là hết không nấu thêm. Ngày ế khách, ngày mưa gió, không bớt. Vì khách là khách quen, xóm bên kia đường, đằng cuối phố, nhà nào, mấy người, ý thích của mỗi ai… Người bán tất biết rõ. Bán như thể rảnh rỗi, thức ăn như một tác phẩm, nhiều quá sẽ thành thừa mứa, tầm thường. Giữa khách và chủ là bạn thân, họ hàng. Người Huế sống với nhau thật khít khao. Nhà anh ấy, bác ấy có con thi đỗ cùng mừng; kỵ đám cả xóm xúm vào giúp nhau. Nhưng chính ở đây cũng là nơi xuất phát những cực đoan lộ liễu. Thầy trên chùa nhất định là đại từ, đại bi, dù vào đến Sàigòn nghe ai nói xấu đến thầy tức khắc lồng lộn, tức tối… Không thế được, thầy không xấu như người ta nói!!

Chúng tôi trở lại Huế bằng máy bay trực thăng trong ngày mùng bốn Tết Mậu Thân. Trời thật lạnh, mưa phùn, u ám thê lương bao phủ thành phố. Máy bay nghiêng nghiêng trên đà xuống, hạ thấp dần, khu doanh trại Bộ chỉ huy Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Chúng tôi ùn ùn kéo ra khỏi phi cơ. Sau ba ngày đánh nhau ở Quảng Trị với số mất mát khá lớn mặc dù chúng tôi đã được cả một đống vũ khí chất đầy một GMC. Mới đây, Giao thừa chúng tôi còn gọi nhau trong máy truyền tin để chúc tụng những lời đầu xuân, rồi ngày mùng Một, tôi nhớ rõ, bốn giờ sáng, từ đó là khởi đầu máu chảy… Vừa hay tin Thừa chết, đến Lộc, đến Hổ, bạn quen lâu, mới quen, thương mến thật nhiều, tất cả ra đi từng loạt từng loạt. Trong những ngày đầu năm, trong những ngày đầy sương muối và mưa phùn, chúng tôi đã chiến đấu đơn độc và tuyệt vọng. Lính Mỹ án binh bất động nằm chờ thời. Không phi cơ, không pháo binh yểm trợ. Chúng tôi đến Huế với vô cùng mỏi mệt.( còn tiếp >

< Ảnh Minh họa .>
( Phan Nhật Nam )

xxxx

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1755543901348110&set=a.1380594875509683.1073741830.100006775504551&type=3&theater

Tri Nguyen with Maria Mon and 6 others.

23 February ·

( QUÊ HƯƠNG VÀ NGƯỜI HUẾ ) Phần 2 tiếp theo >

Kiểm điểm lại quân số, tấn công và chiếm lại Huế, mục tiêu là mấy cổng thành. Ngày đầu quân tiến thật nhanh tràn qua Tây Lộc, xong tiếp đến cửa Chánh Tây, giao lại cho bộ binh. Tối đến cổng thành lại mất. Chúng tôi bắt đầu chiếm lại, và từ lúc này chiến trận đã xảy đến ác liệt. Phi cơ bắt đầu can thiệp, pháo binh yểm trợ và địch tăng cường cố thủ. Chúng tôi tiến lên từng đường, từng ngõ, từng nhà. Thành nội Huế với đường nhỏ vuông vức bàn cờ, tiến quân như đi trên cái chết. Qua được một đường, tiếp tục bắn che chở cho khinh binh; khinh binh chạy thật nhanh, nhanh hơn nữa, nhanh để đua với tử thần, nhanh để sống, để thở, để cười, để còn về lại Sàigòn. Quân tiến thật chậm đến con đường Mai Thúc Loan thì bị chận đứng. Can đảm đứng lên băng qua là chết. Bộ chỉ huy Việt cộng đóng ở trường Bồ Đề nên con đường biến thành tuyến phòng thủ. Cửa Đông Ba cách hai trăm thước không thể nhào vào được. Việt cộng đào giao thông hào, phát súng cho trẻ con mới lớn, gã du đãng muốn làm anh hùng, chủ tiệm bán cà phê được lên làm cấp chỉ huy. Tất cả mặc cảm về yếu kém, vô ích, mặc cảm bị xem thừa, bỏ rơi, tất cả được Việt cộng lợi dụng đến triệt để và tập hợp thành lực lượng lớn để đè bẹp chúng tôi. B40 nổ như muốn nhức óc. Dồn dập, dồn dập. Đơn vị mệt và căng thẳng như con khô nung chín.

Lệnh tấn công trở lại, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Lần đầu tiên của đời lính, tôi đánh nhau trong thành phố và hủy diệt thành phố. Huế, Huế của tôi vừa tìm được, Huế của Việt Nam luôn cố duy trì để trường cữu đang sụp đổ, đang cháy đỏ tươi. Trước mắt tôi tường vôi, mái ngói bị ném lên tung vỡ. Lửa cháy thành ngọn yêu ma kinh dị. Lửa củi, lửa than nghe ấm, nghe vỗ về. Lửa nhà cháy có tiếng kêu như than, như khóc, như tức tưởi, nhu hú lên vì sợ. Lửa nhà cháy ở thành phố là lửa tai ương, lửa bất hạnh, lửa có mùi… Mùi người chết, mùi của xương, của da, của thịt bị nung nóng thành than, thành một vật chất quái dị, khô đặc, nứt nẻ, đụng vào thấy ươn ướt nhầy nhầy… Huế trước mặt tôi sụp đổ từng miếng một, nghe đau xót như tình nhân bị cưỡng hiếp. Tôi đã từng chứng kiến nhiều đám cháy ở Kiến Hòa, Bồng Sơn… Tiêu điều, tan nát! Đúng như vậy, nhưng chưa đến độ thấm đau đến phải bật khóc. Ở Kiến Hòa thì thấy tiếc – phải – chỉ tiếc nuối một phần vật chất bị hủy hoại. Nhưng Huế cháy, gạch bát tràng, ngói âm-dương, tượng Di Lạc, tượng Thích Ca, Kim Cang, Thiện-Ác, lớp rêu trên viên đá, đầu trường thành cây kiểng trồng từ đời Gia Long, Khải Định… Tất cả chúng đều có linh hồn, không chỉ là đất đá, cây thuần túy… Chúng có kỷ niệm trong lòng, chúng là vết tích hoài hoài mà chúng ta luôn nhớ. Đó là cổng thành vua đã đi qua, đó là Phú Văn Lâu nơi xướng danh những người thi đỗ, này cung vua, lầu Hoàng hậu, con đường đi có mái để đưa hậu về cung son. Con người đã đi qua, nhưng dấu vết lịch sử còn đó. Tôi người mới lớn trên quê hương, thấy lạc loài, bây giờ vừa tìm được, mong tay bắt mặt mừng, thì Huế đã cháy, đã đổ. Tôi thấy đau, đau ngẩn ngơ, như thuở bé có món đồ chơi, rồi phải tự tay đập phá. Chiếc cổng thành xây bằng đá tảng đi qua mát lạnh mênh mông, bây giờ đổ xuống thiểu não như một thi thể già nua. Phi cơ xuống ầm ầm, tiếng nổ, đám khói mù mịt… Huế rên lên từng tiếng não nùng, tiếng kêu la gào thét của những mái cung điện, hàng cửa sổ trên lầu Ngọ Môn. Vong linh tiền nhân còn có nơi đây? Không còn ai! Chỉ còn bức tượng đá đăm chiêu nhìn ra một sân chầu bị trốc ngược.

Trong lửa cháy người Huế dẫn nhau chạy loạn, cha cõng con, chồng dìu vợ, con bế cha, mẹ già. Tất cả bình yên đẹp đẽ, đài các của ngày xuân tan thật nhanh trong lửa đạn. Đào thêm một nhát cuốc nữa cho đủ sâu, cô gái tóc xanh hôm qua nay đầy bụi bặm, vành khăn tang quấn vội trên đầu, tay nắm chặt cán cuốc, cuốc những nhát cuốc đầu tiên trong đời để nên huyệt cho người thân. Người chết ở đâu nhiều quá, xác chết của lính, dân hay Việt cộng, chôn ở lề đường, sân chùa, sân trường, chôn ở đâu có đất. Chôn ngay chỗ ngã xuống, nằm yên lần cuối. Thôi người chết hãy ngủ yên. Thôi Huế hãy nuốt cơn đau.

Người Huế chết như trò chơi, như nằm ngủ, theo lính chạy về Mang Cá, bị B.40, AK quét ngã, ở khu Gia Hội thì do pháo binh, ở khu Đập Đá chết bởi súng cối từ chùa Diệu Đế bắn về… Chết, chết ở đâu cũng có, vì đạn, vì mảnh, vì hơi ép, vì chôn sống. Một ngàn cách chết, đầu đường, góc phố, xác chết nằm cong queo, nằm thẳng cẳng, sấp ngữa, kinh hoàng, uất ức, trăn trối… Làm sao nói cho hết, làm sao nói cho cùng. Hỏi trời, hỏi đất, hỏi Thượng Đế… Tôi muốn hỏi, muốn kêu, muốn hét nhưng hình như mọi phản ứng đã thừa, đều thiếu hụt, không đủ nghĩa. Im lặng. Chỉ có tiếng than im lặng đó, chỉ có nó. Chỉ có nó vang lên, vang lên.

Phi trường Phú Bài, đoàn quân sau mười lăm ngày lửa đỏ đi trong nghẹn ngào xơ xác, không tăng viện được, chúng tôi trả lại Huế cho đơn vị bạn. Đoàn quân im nín, trong mắt mọi người đều sáng lên ánh lửa – Xin cho tôi xa nơi này, nơi địa ngục. Riêng tôi, tôi hứa rằng sẽ trở lại. Trở lại nơi đây, nơi bạn bè tôi đã nằm xuống không quan tài, vùi xuống ở khoảng địa cô quạnh bên cạnh đồn Mang Cá.Tôi sẽ trở lại nơi đây vì tôi bỏ qua hình ảnh những gã trai hai mươi, mười chín, những cô gái muốn làm anh hùng ngã tắt, những trí thức làm dáng một lần vì mặc cảm rồi lao theo quỉ sứ. Những kẻ đó mới hôm qua còn tầm thường, còn đứng trong bóng tối, nay trở thành Uỷ viên, nay làm cách mạng, mang AK, đeo băng đỏ đi xe Honda, Suzuki, ném lựu đạn… Ôi cái ảo tưởng anh hùng sao mà vẫn còn hấp dẫn đến thế! Tôi quên những hình ảnh lố bịch và đáng phẫn nộ đó vì tôi biết rằng ở Phú Cam, người Huế đã chống cự bằng Garant, Carbin M.1 suốt mười mấy ngày dài. Họ đã chiến đấu trong dũng cảm nhất với ý thức rõ ràng về sự chọn lựa cho con người một vị thế.

Đáng lẽ tôi phải viết thêm để nói về trận đánh bi tráng và tuyệt vọng của tiểu đoàn tôi, tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy dù trong suốt mười lăm ngày, kể từ ngày mùng một và mùng hai tết… Những trận đánh từ làng Đốc Sơ nơi cầu An Hòa vào đến sân bay Tây Lộc. Những đơn vị bạn đã chiến đấu trong đơn độc không yểm trợ để chiếm cho được cổng An Hòa. Tôi phải nói cho rõ, nói cho cùng cái can đảm thần thoại của đại đội 92 với quân số trên bốn mươi người, chỉ hơn một trung đội Mỹ năm người, Thành “Râu”, đại đội trưởng bị thương phải chống gậy chỉ huy chiếm cửa Thượng Tứ, bị kẹt lại suốt hai ngày đói và khát. Tôi phải nói cho hết niềm kinh hoàng tột độ của thằng bạn thân – Lô – đại đội trưởng 74, người cao chỉ đến một thước sáu, lưng mang máy truyền tin, vừa chỉ huy vừa liên lạc, sử dụng luôn khẩu đại liên 60 chận địch cho quân sĩ rút lui trước, bị thương gãy chân kẹt giữa hai lằn đạn trong suốt một buổi chiều. Nhưng khốn nỗi tôi không tham dự trực tiếp trận đánh nên không thể viết trung thực được và điều giả dối ai nỡ đem vào trong văn chương. Nên nhân cảnh loạn ly tôi nói đến con người. Không nhớ có ai đã phán ra câu đại để: “Trong gian nguy mới nhìn rõ mặt người”. Điều này đúng quá, những ngày khói lửa ở Huế, tôi mới có dịp để nhìn thấy người Huế, người của quê hương từ lâu tôi không gặp.

Tôi có một người chú họ, chú Bộ làm Cảnh sát, bị Việt cộng bắt cùng đám người công chức hoặc quân nhân, Việt cộng dẫn họ đi tải đạn và cuối cùng thì bắn chết tập thể. Chú tôi, một người chậm chạp, có thể gọi là lù đù, ngớ ngẩn vì rượu đã làm cho ông suy nhược trí óc lẫn thể xác, thế nhưng khi Việt cộng bắt đi theo vác nặng bao nhiêu ông cũng chịu đựng nổi, mặc dù một chân đã bị gãy từ trước, và đến lúc Việt cộng bắt đầu hành quyết, không biết do một sức mạnh và khôn khéo nào, ông đã trốn thoát được. Về nhà sau năm ngày lẩn trốn, ông vẫn chậm chạp và ngớ ngẩn như thuở nào. Bác Soạn, người có ngôi nhà cạnh nhà bà nội tôi, luôn luôn đứng vào hàng ngũ những người chống đối chính phủ, bác thuộc phe phái thầy ở trên chùa, từng bị Chi bắt đem giam tại trại bài trừ du đãng mấy tháng sau vụ biến cố miền Trung năm 1966. Việt cộng vào thành phố Huế cùng với sự trở về của những thanh niên trên dưới ba mươi, lớp tuổi của những đồng chí của Ngô, Dinh… Những người bạn tôi đã trốn ra khu trong những năm trước, nay trở về với chức ủy viên này nọ. Tôi không hiểu có những gì đã biến đổi những người trẻ tuổi đó, những trí óc trẻ trung vị tha, trí thức ngày nào bây giờ trở nên những tâm hồn cứng rắn, trì trệ, hung tàn và hiếu sát. Có gì đã biến đổi họ để ủy ban nhân dân có đủ quyết định chôn sống từng loạt người sau trường tiểu học Gia Hội? Công chức, thuế vụ, công chánh, cảnh sát… Tội ở đâu? Hay vì đã từng bắt giữ một người đi xe đạp không đèn, người ấy bây giờ làm ở uỷ ban nhân dân?! Hận thù nào để chôn sống một nhân viên công an vì người này đã một lần dọa “bắn vỡ đầu” một người bà con của một ủy viên, thật tình tôi không hiểu động lực căm thù, chính sách khủng bố nào đã chỉ đạo cho những cuộc tàn sát tập thể trên.

Người Việt cộng vào thành phố, được đón tiếp bởi những kẻ nằm vùng, chính lớp người này mới thật khó chịu, hống hách, cuồng sát và thâm hiểm một cách đáng sợ. Hình như bao nhiêu mặc cảm yếu đuối, thừa thãi từ bao năm được bù trừ lại bằng vinh quang nhất thời, họ hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát. Họ tố người này, bắt người kia, tuyên án giết người thể như một trò đùa. Những tên trẻ tuổi tay mang băng đỏ, lưng đeo AK, lái xe Honda lượn khắp thành phố, kênh kiệu và tàn ác như một loài thú. Một cô gái trong ba ngày tố khổ và tuyên án gần hai mươi người. Nữ sinh viên mắt sáng, mũi cao, đẹp thật tươi, nhưng sao độc ác đến ngần ấy? Khi tiểu đoàn tôi bắt được, cô ả kháng cự lên tiếng thách thức, nhưng khi nòng súng của Sơn Bum dí vào người, cô gái mới tỏ vẻ sợ hãi. Tôi nghĩ rằng giây phút sợ hãi đó là cơn tỉnh giấc của một thời gian mộng du đẫm máu.

Những ngày ở Huế tôi còn được nghe tin Việt cộng bắt Thượng Nghị sĩ Trần Điền và sau này chúng chôn sống ông. Tôi thuộc về hàng hậu bối, xa xứ Huế không biết nhiều về ông, chỉ biết ông qua vóc dáng một trưởng Hướng Đạo. Ông có Đệ Ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương, khi chính quyền ông Diệm kết án ông về vụ Ba Lòng, ông đưa chiếc huy chương đó để biện minh lòng yêu nước. Thuở ấy Bảo Quốc Huân Chương là một cái gì hiếm có chứ không phải như những anh nhà binh sau này cứ đi lính lâu năm, hội đủ điều kiện thâm niên, một vài cái huy chương văn phòng nhưng tính điểm cao hơn Anh Dũng bội tinh nhành dương liễu, cộng chung tất cả lại đủ để có Bảo Quốc huân chương, ra tòa án với các vụ lẩm cẩm như ăn cắp, thụt két, hiếp dâm, giết người vì ghen hoặc thủ tiêu đàn em vì sợ thằng nhỏ “khui” mình… Thường đem Bảo Quốc huân chương ra chạy tội!? Kết quả vụ án trên ông được giảm khinh. Nhưng điều tôi nhớ về ông nhiều hơn hết là giọng nói đĩnh đạc, hùng hồn, âm thanh cuốn hút người nghe. Lòng trẻ con của tôi thuở trước mở ra nhìn ông như một vị huynh trưởng sáng giá, ông có tên rừng “Gà Hùng Biện” theo luật của Hướng Đạo. Bây giờ nghĩ lại, ông quả là một huynh trưởng sáng giá thật, khi bị bắt, ông thẳng thắn nhận mình là một Thượng Nghị sĩ của chế độ Cộng Hòa, ông vẫn giữ nguyên tinh thần bất khuất của một Tráng Sinh đã lên đường. Con ông là San, khóa sau tôi đi Biệt động quân, tôi nghĩ rằng với uy tín ở miền Trung ông có thể “chạy” cho San về một chỗ ở văn phòng, nhưng ông không làm như vậy, San đã đánh trận đánh đáng tiền nhất của Vùng I Chiến thuật năm 1965 – Trận Ba Gia. Ngày Việt cộng phản công chiếm lại đồi, tiểu đoàn San bị tổn thất nặng, nó thoát chết chạy về Đà Nẵng ngơ ngác như một bóng ma. Có phải thế không San? Mày không biết tao là ai, nhưng tao biết mày là đội trưởng đội Hổ đoàn Nguyễn Trường Tộ, thuở nhỏ tao muốn được hãnh diện của mày – Con của trưởng Điền, “Gà Hùng biện”. Bây giờ ông chết như một người Hướng Đạo sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói… Mày cho tao chia sẻ cùng vinh dự này.

Người Huế thuở xưa đã thực hiện một chiến công không thành nhưng biểu lộ cách can đảm hùng tâm, dùng sức người vây hãm, tấn công vào khu Morin của người Pháp trấn giữ đầy vũ khí. Mùa xuân năm nay cũng vậy, những con người bình thản như dòng sông kia đã chịu đựng nghiệt cảnh bi thảm không biên giới, và họ đã chiến đấu hết sức của một người. Khu Phú Cam, bằng Garant và Carbin M1, thanh niên và lính chuyên môn ở các trại quân cụ, công binh đã chống cự với Việt cộng cho đến ngày cuối cùng. Và tôi nghĩ rằng hình ảnh bi tráng nhất của chiến tranh này là trong buổi Huế điêu tàn người Huế đã hát quốc ca khi lá Cờ Vàng dần lên cột cờ loang lỗ dấu đạn… Người Huế đã cất cao giọng hát trong gió lạnh, hòa mưa bay khi nước mắt lăn dài trên gò má. Huế ơi! Quê Hương! Tôi muốn khóc hôm ấy. Tôi muốn khóc biết bao nhiêu…( Hết )

< Ảnh Minh họa >

Huế Mậu Thân.
Tháng 2-1968.( Phan Nhật Nam)

CHUYỆN CHÚNG MÌNH – VIẾT BẰNG TÊN CÁC BẢN NHẠC (Nguyễn Hữu Huấn)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/06/chuyen-chung-minh-viet-bang-ten-cac-ban-nhac-nguyen-huu-huan/

Nov 22, 2015

http://www.vietnamvanhien.net/ChuyenChungMinhTenCacBanNhac.pdf

Anh là người LÍNH TRẬN MIỀN XA và là NGƯỜI XA THÀNH PHỐ . Anh vẫn sống cuộc đời BỀNH BỒNG như con NGỰA HOANG vào một BUỔI SÁNG MÙA XUÂN bôn ba trên BỐN VÙNG CHIẾN THUẬT . Anh vẫn NHƯ CÁNH VẠC BAY theo bóng CON THUYỀN KHÔNG BẾN, hòa với CÁT BỤI TÌNH XA trong ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA, để nhìn MÂY LANG THANG như kẻ MỘNG DU theo VẾT CHIM BAY và khóc cho TUỔI ĐÁ BUỒN. Continue reading

TS NGUYỄN ĐỨC HIỆP : ĐẾ SÀI GÒN KHÔNG BỊ “XÓA SỔ CĂN CƯỚC” (Nguyễn Vĩnh Nguyên th ực hiện)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/06/ts-nguyen-duc-hiep-de-sai-gon-khong-bi-xoa-so-can-cuoc-nguyen-vinh-nguyen-thuc-hien/

Thứ Bảy, 3/9/2016, 15:11 (GMT+7)

http://www.thesaigontimes.vn/150791/TS-Nguyen-Duc-Hiep-De-Sai-Gon-khong-bi-xoa-so-can-cuoc.html

.

http://www.thesaigontimes.vn/Uploads/Articles/150791/cc2f2_ts_nguyen_duc_hiep___anh_nvn..jphttps://i2.wp.com/www.thesaigontimes.vn/Uploads/Articles/150791/cc2f2_ts_nguyen_duc_hiep___anh_nvn..jpg

Nguyễn Đức Hiệp

Nguyễn Đức Hiệp

  • Sinh trưởng ở Sài Gòn.
  • Du học Úc từ 1974 theo quỹ học bổng Colombo.
  • Chuyên gia khoa học về khí quyển ở Bộ Môi trường và Di sản, bang New South Wales, Úc.
  • Cộng tác với các nhà nghiên cứu ở Việt Nam nhiều năm qua trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu và bảo tồn di sản văn hóa.

Continue reading

GIẢI THƯỞNG NÀO CHO “CỬU LONG CẠN DÒNG, BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG” ? (Inrasara)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/06/giai-thuong-nao-cho-cuu-long-can-dong-bien-dong-day-song-inrasara/

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2016

http://www.diendantheky.net/2016/09/inrasara-giai-thuong-nao-cho-cuu-long.html#more

.https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/09/0bf10-image001.jpg

Hình bìa tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng” của Ngô Thế Vinh

Giải thưởng cho Ngô Thế Vinh với tác phẩm Cửu Long cạn dòng Biển Đông dậy sóng(1), cơ quan hay tổ chức nào sẽ trao cho nó? – Không đâu cả! Continue reading

HẢI CẢNG CHIẾN LƯỢC CHÂN MÂY SẮP RƠI VÀO VÒNG KIỂM SOÁT CỦA TRUNG QUỐC ? (Lê Anh Hùng)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/06/hai-cang-chien-luoc-chan-may-sap-roi-vao-vong-kiem-soat-cua-trung-quoc-le-anh-hung/

06.09.2016

http://www.voatiengviet.com/a/hai-cang-chien-luoc-chan-may-sap-roi-vao-vong-kiem-soat-cua-tq/3494676.html

.https://i0.wp.com/gdb.voanews.com/E2652CA4-26C7-470F-B569-35B6466B3117_w987_r1_s.png

http://gdb.voanews.com/E2652CA4-26C7-470F-B569-35B6466B3117_w987_r1_s.png

Cảng Chân Mây và những vị trí xung yếu chung quanh. Ảnh: Lê Anh Hùng Continue reading

Ấn Độ được gì khi quan hệ chặt chẽ với Việt Nam ?

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160905-an-do-duoc-gi-khi-quan-he-chat-che-voi-viet-nam

Minh AnhĐăng ngày 05-09-2016 Sửa đổi ngày 05-09-2016 15:49

mediaThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc (T) và đồng nhiệm Ấn Độ Narendra Modi duyệt đội quân danh dự trong lễ đón tiếp tại Hà Nội, ngày 03/09/2016REUTERS/Kham Continue reading

Tổng thống Pháp sẽ đề cập đến nhân quyền khi thăm Việt Nam?

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/human-rights-org-urge-french-pre-speak-out-human-rights-during-vn-visit-09052016080617.html

RFA

2016-09-05

9b41302b-ec83-41cd-a8bc-e994372ec093.jpegTổng thống Pháp Francois Hollande tại điện Elysee ở Paris vào ngày 24 tháng 3 năm 2016.AFP photo

Ba tổ chức theo dõi nhân quyền trụ sở tại Pháp hôm qua ra thông cáo báo chí cho biết có gửi thư ngỏ đến tổng thống Pháp Francois Hollande ngay trước chuyến công du Việt Nam của ông này. Continue reading

Ký Giả Đức Viết Về Mgười Trung Quốc tại Việt Nam: hung hãn và không Biết Tôn Tr ọng Là Gì_Quang Trung(chuyễn dịch)

http://www.diendannguoidanvietnam.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10974:2016-08-29-12-32-01&catid=27:bai-vit&Itemid=12

Ký Giả Đức Viết Về Người Trung Quốc tại Việt Nam: hung hãn và không Biết Tôn Trọng Là Gì_Quang Trung(chuyễn dịch)

Tác giả: Jörg von Rohland (Bayernkurier)
Quang Trung (Diễn Đàn Việt Nam 21) chuyển dịch

Đối với chính quyền và nhiều người Trung quốc từ ngữ „tôn trọng“ là một từ ngữ xa lạ. Trong khi Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp các đảo nhân tạo nhằm hỗ trợ yêu sách lãnh thổ của mình thì người dân mải mê đi du lịch. Đặc biệt là ở nước láng giềng Việt Nam, nhiều người Trung quốc có những hành xử rất khiếm nhã.

Theo số liệu chính thức thì mỗi năm có khoảng 120 triệu người Trung quốc đi du lịch nước ngoài. Mặc dù giữa Việt Nam và Trung quốc đang có tranh chấp đảo tại Biển Đông, số lượng người Trung quốc du lịch ở Việt Nam mỗi năm khoảng 5 triệu người, đứng hàng thứ nhất, kế tiếp là người Nga. Hiển nhiên đa số những người đi theo tour du lịch trọn gói từ Trung quốc đến các phi trường quốc tế Việt Nam không thuộc thành phần đại gia. Dầu sao ở nước cộng sản này so ra vẫn rẻ.

Du khách Trung quốc tại Hội An (ảnh RFA) (*)

Du khách Trung quốc tại Hội An (ảnh RFA) (*)

Mặc dù vậy người Trung quốc mặc cả đến từng xu. Một thành viên của Hội Đức-Việt ở Nha Trang là ông Lothar Hüpner, người sống từ 10 năm nay ở ngoại ô của một khu du lịch nổi tiếng cho biết „người bán hàng than phiền về những khách du lịch này, khi thương lượng giá cả họ tỏ ra quá khích, khiến thể diện người Trung quốc bị liệt vào hạng thấp nhất“. Hình ảnh khách du lịch Trung quốc ăn cắp chuối của một bà bán hàng (vì giá cả đối với họ quá đắt) đã lan truyền trên các trang mạng xã hội.

Theo ông Hübner, mỗi du khách Trung quốc thường chi cho chuyến du lịch Việt Nam tổng cộng khoảng 400 USD. Ông Đức 67 tuổi này, trước làm nghề kim hoàn ở Hamburg, còn trích dẫn tường thuật của báo chí địa phương: „vậy mà còn có những chào mời cho chuyến du lịch trọn gói chỉ có 200 USD, bởi vậy ở đây bị bóc lột lừa đảo không thương tiếc“. Từ tháng 5 năm nay, báo chí luôn than phiền lối hành xử mất dạy của những hãng du lịch Trung quốc tại các thành phố du lịch Nha Trang, Hội An và Đà Nẵng.

Con số người Trung quốc đi du lịch đã tăng lên gấp 5 lần

Trong vòng một năm nay, số khách Trung quốc du lịch ở Nha Trang đã tăng lên gấp 5 lần nhưng các hãng du lịch tại địa phương chẳng cơm cháo gì được. Hồi tháng 5 năm nay các xe buýt của hãng Trung quốc có tên „Silent Beach“ đã tràn ngập thành phố. Thì ra với sự giúp đỡ tận tình của một cựu quan chức của sở du lịch hãng xe buýt này đã sử dụng giấy tờ giả để chạy xe. Quan chức này và gia đình ông ta đã tận tình bao che cho hãng đó. Sau đó họ đã bị phạt tiền nặng và trên 20 xe buýt đồng loạt biến mất khỏi thành phố.

Trung quốc bành trướng

Người Trung quốc không ngần ngại lộng hành ở các nơi khác. „Họ lợi dụng sự hiếu khách của nơi đây và tạo cho mình một hệ thống riêng biệt trong vùng“, ông Hübner dẫn lời tường thuật của báo chí địa phương. Theo đó các hướng dẫn viên du lịch Trung quốc hành nghề không cần giấy phép lao động. Tại những di tích thắng cảnh quan trọng các hướng dẫn viên này còn xấc xược xuyên tạc lịch sử Việt Nam theo chiều hướng có lợi cho Trung quốc vì Việt Nam đã bị Trung quốc đô hộ một ngàn năm. „Danh sách liệt kê những hành vi láo xược và thủ đoạn làm ăn phạm pháp của những người Trung quốc tổ chức du lịch còn dài hơn nữa, nhưng tôi nghĩ rằng, mọi người ở đây đều hiểu là người Trung quốc chẳng kiêng nể quốc gia nào cả“, ông Hübner nói.

Dân chúng hết sức bức xúc, ngay cả những nhân viên biên phòng Việt Nam cũng khó mà giữ được sự điềm tĩnh. Họ rất khó chịu với nhiều hộ chiếu của người Trung quốc và không chịu đóng dấu nhập cảnh. Theo báo Tin Tức Tuổi Trẻ, lý do dễ hiểu là trên hộ chiếu của người Trung quốc có in hình chìm „biên giới chín đoạn“ yêu sách 80% Biển Đông là của họ. Tờ báo trên cho biết là thiết kế mới này bắt đầu được in trên các hộ chiếu Trung quốc từ năm 2012. Người cầm hộ chiếu kiểu này không được đóng dấu nhập cảnh Việt Nam trên hộ chiếu mà thay vào đó chỉ nhận được một tờ giấy rời. Một quan chức nói với tờ báo rằng việc cấp chiếu khán rời nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam không công nhận „biên giới chín đoạn“ này dưới bất cứ hình thức nào.

DuongLuoiBo09
Hồi cuối tháng bảy một nhân viên hải quan tại phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất đã gây căng thẳng khi ông ta không những không đóng dấu vào hộ chiếu cho một phụ nữ đến từ Thượng Hải mà còn viết một lời nhắn rất không thân thiện „Fuck you“ vào đó! Vụ này đã gây một cơn bão phẫn nộ ở Trung quốc và Tòa Lãnh sự Trung quốc ở Việt Nam đòi hỏi phải phạt nặng nhân viên đó để tương lai chắc chắn không xảy ra chuyện tương tự nữa.

Các tòa án quốc tế không có ý nghĩa gì đối với Trung quốc

Trung quốc tỏ ra hoàn toàn không có ấn tượng gì về phán quyết của tòa án trọng tài Den Haag (The Hague) rằng sự tranh chấp lãnh thổ của Trung quốc ở Biển Đông là vô căn cứ. Nhân dịp này Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và một phần của Trường Sa.

Người Trung quốc coi thường bản án này, tuyên bố phán quyết của Den Haag không có giá trị và thản nhiên tiếp tục công việc xây dựng ở Biển Đông. Tờ báo New York Times gần đây cho phổ biến nhiều hình ảnh chụp từ vệ tinh làm cho cuộc tranh chấp tiếp tục nóng lên. Các hình ảnh cho thấy sự lấp đầy các rặng san hô ở Biển Đông. Khoan nói tới sự hư hại về môi trường: Trên những đảo nhân tạo này người ta thấy những phi đạo cất/hạ cánh mới toanh cũng như những tháp và hăng ga chứa máy bay. Tờ New York Times cho rằng những cơ sở xây chắc chắn này dùng cho việc quân sự. Tuy những hình ảnh không cho thấy những phi cơ quân sự trên phi đạo nhưng trong những hăng ga có thể chứa bất cứ phi cơ quân sự nào của quân đội Trung quốc. Dĩ nhiên Trung quốc phủ nhận những điều này. Cho đến hôm nay Bắc Kinh vẫn tránh nói đến từ „quân sự hóa“ Biển Đông.

——————————————–

Nguồn: Chinesen in Vietnam – Rücksichtslos und aggressiv, Jörg von Rohland, Bayernkurier 18/08/2016
(*) Hình ảnh do DĐVN21 thêm vào

Bản tiếng Việt do Diễn Đàn VN 21 gửi đăng

KTS TRẦN THANH VÂN: TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/05/kts-tran-thanh-van-toi-biet-gi-ve-trung.html


KTS TRẦN THANH VÂN: TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

KTS Trần Thanh Vân (Ảnh: N.X.D.) (Nhà nghiên cứu phong thuỷ)

Lâu nay moị người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thuỷ Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thuỷ của kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nôị mở rộng ngày nay thì họ hay hoỉ tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhậy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hôị, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế.!

Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hoá 1000 năm Thăng Long. Một nhóm nghiên cưú của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giưã chừng câu chuyện, họ hoỉ tôi “Chị nghiên cưú đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rôì trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”.

– “Cái gì? 55 năm?”.

– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”. Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học , tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thuỷ cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.

Sự thật và trải nghiệm

Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của môí quan hệ hưũ nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cưú chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng vơí trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít có ai có cơ hôị để “hiểu” Trung Quốc hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải noí ra hôm nay để moị người cùng biết.

Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời moị người hay hát “Việt Nam- Trung Hoa nuí liền nuí, sông liền sông/ Chung một Biển Đông, thắm tình hưũ nghị…” trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung quốc.

Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953.

Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chiụ cảnh máy bay bắn phá. Nhưng , cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cưú sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng goị bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông tôi ngoại không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cưú mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp , mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi…Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.

Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nôị nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nôị. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cuị làm việc đó, mẹ tôi vưà nuôi sống cho gia đình và bản thân, vưà đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may /xào xạc rung cây lá lá bay/một mùa đông bao người đan áo…” chính là noí về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cưú quốc.Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sơị bông, nhuộm sơị thành các mầu xanh, mầu nâu, mầu cỏ úa rôì đan thành áo gưỉ ra chiến trường, đã được ca ngơị như một chiến công lớn.

Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tôị, có một người bạn thân hôì nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.

Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vôị vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vưà đặt chân đến Chợ Chu – Định Hoá – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối vơí một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay moị người vẫn còn nhớ.

Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.

Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, moị người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

Kỷ niệm thứ 2: Trời phạt

Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hưũ nghị Việt -Trung -Xô.

Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường là dù chưa quen biết người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hoà Bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc. Còn nhỏ xiú nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gôí, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Toà dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buôỉ sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột cờ.

Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buôỉ chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị- Phủ Tây Hồ.

Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn qủàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thôỉ sáo Phùng Tử Tồn và hai người nưã. Mộ của họ mai táng ở nghiã trang Bất Bạt huyện Ba Vì.

Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít và vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới con lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nôỉ thứ tình hưũ nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tôị nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?

Mấy chục năm sau, để giải toả tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh ở làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu/ Dấu nhà Trời ai thấu được đâu/ Một dải khăn đào kết một cái cầu/ Để hồ thẳm nước sâu/ Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.

Du học ở Trung Quốc

Tuôỉ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hôì nhỏ.

Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dậy giỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.

Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông hoạ sĩ già thì hai bàn tay bôi mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà vơí cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.

Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hoỉ “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ reo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hoỉ như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chôị của ký túc xá, bưã cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.

Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nưã ở cùng trong một ngôi nhà giành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một Toà nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một giành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hoá ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi?. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan thận gì đó rất cần ăn đường nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xiủ, thấy vậy tôi hay đi mua đường mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngôì hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hôị, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.

Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hoá nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các giáo sư trong trường đã từng giảng dậy chúng tôi, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tiũ.

Là một đưá con gái xuất thân trong một gia đình có giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và xỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung hoa có truyền thống văn hoá lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Tôi không sao chấp nhận nôỉ, những người bị hành hạ là những giáo sư đáng kính của chúng tôi, những người hành hạ các giáo sư lại là những bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy. Nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.

Chúng tôi rất sợ bị liên luỵ nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”

Đó là giưã năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký, chúng tôi khăn goí vôị vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh trường Đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nôỉ tiếng Lý Đức Hoá, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu?. Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bưã cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.

Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nôỉ các nhà cầm quyền và thứ “tình hưũ nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.

Chúng tôi rơì Thượng Hải buồn bã và vôị vàng như ma đuổi.

Thời kỳ đã trưởng thành

Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chiụ của những ngày cuôí cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi vơí khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.

Sau đó, môĩ người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngôì tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.

Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể noí ra vơí ai. Tôi ở cùng nhà vơí một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Míc bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.

Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự qúa đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo roĩ và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nôị bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời trung cổ của họ mà thôi.

Trung quốc hôm nay?.

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Quốc đã thay đôỉ rất nhiều và rất đáng kính nể.Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung quốc đại nhâỷ vọt mà họ đang ra sức qủang bá, vẫn còn có một Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung hoa đã từng bị chà đạp, bị xỉ nhục và chiụ nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đôỉ rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vưà gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hôị ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng ” noí về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi.“Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rôì đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi noí vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã giành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đôỉ của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa noí, còn lớp người Trung Quốc thứ ba đang vưà là chỗ dựa vưà là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thoí quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa”để đối phó vơí các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nưã hoặc không sử dụng được nưã thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển hơn một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp vơí công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vưà qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả giám đốc sở tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều vơí vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tôị phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lưà đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nôị ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

Ông Vũ Duy Phú và KTS Trần Thanh Vân. Ảnh: N.X.D.

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nôi bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta. Tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cưú các lý thuyết về phong thuỷ địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc xử dụng chữ gốc La Tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ 16-17 như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes ( 1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ thứ 19 để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ 20 là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine. Cám ơn các vị giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khoỉ ảnh hưởng của văn hoá nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ thứ 20 đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong Thuỷ, Địa Mạch và Kinh Dịch.

Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lưá tuôỉ của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thuỷ địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền Trung Quốc thèm muốn chư không phải nhân dân Trung quốc, bơỉ vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc không hề được hưởng lợi gì, có khi còn bị thiệt thòi hơn.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich. Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, nuí, sông…chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich.

Hình quẻ Chấn

Theo phần tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của Kts Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giưã Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gẫy có nghiã là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có môí quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.

Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết qủa của một quá trình chiến tranh và đồng hoá lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nôị chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao … đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giầu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giưã Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cưú kỹ phong thuỷ địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được yếu điểm cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi haị đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya trên qua Cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống Vinh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở Vịnh Mindanao Philíppin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nôí từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sendwich đó không cho nó trôi trượt đi, mà họ có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “Củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm vơí nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán ( người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hoá thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và huỷ diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghiã là Nhà nước Trung Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn.

Tây Tạng

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bơỉ vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền…Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam : Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dẫy nuí cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì Đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này.( đọc Đại địa mạch quốc gia ) Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn vơí đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, toả ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NUÍ CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền Tấu Thư kiểu tự là một trong những kết qủa tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài gioỉ gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hôị rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đương Y Tôn yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tôị. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phiá Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á.

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên Vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có Vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có Vinh Bái Tử Long và ngoài khơi xa của Hải phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xoè ra ở Đồng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc Vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thưà của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước họ không thay đôỉ. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bơỉ vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu A và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh.

Đồng bằng Bắc bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu/Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.

Cốt lõi Trục Phong thủy nước ta là:

ÂM DƯƠNG TƯƠNG ĐỒNG

Biển Đông Thái Âm

Đảo Hải Nam Thiếu Dương

Bán đảo Đông Dương Thái Dương

Biển Hồ Thiếu Âm

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi Đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ 16 trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần muĩ thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bơỉ vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác đinh thái độ và hành động của mình.

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong môí quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bơỉ vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khoỉ cõi u mê của sự hoang tưởng trong môí quan hệ với Trung Quốc. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dậy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dậy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở sức mạnh Trung Quốc và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?..

Đông dân là một sức mạnh.

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào noí rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động tổ chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để doạ nạt chúng ta và các nước trong vùng.

Có điều, một thảm hoạ đông dân mà Nhà nước không vì dân, thì Nhà nước sẽ khốn đốn vì sự phản ứng của dân. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Qủang Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không ? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì moị nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không ?

KTS. Trần Thanh Vân.

(FB. KTS Trần Thanh Vân)

Địa lý VN !

Tôi không ngờ một KTS học lên từ miền Bắc rồi đào tạo ĐH ở Trung Cộng về nước làm việc cho chế độ CS miền Bắc bao nhiêu năm,mà KTS Trần Thanh Vân lại có một tinh thần tự học với tầm suy nghĩ cao rộng kết tinh trong đó lòng yêu nước sâu xa,thật đáng trân trọng biết bao!

Tôi thật ngưỡng mộ chị KTS Trần Thanh Vân!

Xin trân trọng chuyển đến quý bạn hiền 1 bài viết của chị về bản chất của bọn bành trướng Bắc Kinh và về Phong Thủy Địa thế của Việt Nam ! Rất hay và rất tâm huyết!

TTN

Bài này – phần đầu KTS Thanh Vân đã viết từ 2008 -có nhắc nhở bọn Lãnh Đạo khi làm Kỷ Niệm Thăng Long 2010. Cô này về Dịch Lý và Phong Thủy ( 2 kỳ thư của Cổ Trung Hoa – mà các Khoa Học Gia Tây Phương rất ngưỡng mộ – Máy Tính phát sinh từ căn bản Âm Duơng ) rất căn bản và thâm sâu – có " lòng yêu nước " rất đáng trân trọng. Cũng như Cô tôi tin Địa Thế của VN về Phong Thủy – duy nhất trên Thế Giới có Hình Tượng ( logo) của Âm Dương: Nếu lấy Compas để tâm điểm là Huế vẽ Vòng Tròn thì chữ S là vạch chia Âm Dương gồm Tứ Tượng : Thái Dương là phần đất liền trong đó có Thiếu Âm là Biển Hồ – Biển Đông là Thái Âm với Đảo Hải Nam là Thiếu Dương!.

This is an article written by Architect Tran Thanh Van who has had a lot of experience in the Geology and Structure of the land mass in Asia, i.e. the "Phong Thuy" of China and VN, etc…. Tran Thanh Van believes the reason that China has always wanted to occupy VN is because the Chinese Government thinks that North VN with Ha Long Bay is the tail of a giant Dragon, whose head is the Peak of Himalaya Mountain Ranges. Tibet (Tay Tang) the peak of Fansipan (the Sa-Pa area) and the Northwest VN (the "Bauxit" mines) are parts of this giant Dragon. The Chinese believes that if they take over the control of the land where this Dragon lies, then they can take control of the entire world!….They are now trying to accomplish this ambition!

NỀN TẢNG QUỐC GIA – CƠN KHÁT GIỮA SA MẠC ? (Đông Nguyễn)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/05/nen-tang-quoc-gia-con-khat-giua-sa-mac-dong-nguyen/

30.08.2016

http://www.voatiengviet.com/a/nen-tang-quoc-gia-con-khat-giua-sa-mac/3485288.html

Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, nền kinh tế rơi vào suy thoái, mỗi bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, và cái đói bao trùm khắp nước. Continue reading

VIỆT NAM TĂNG LỆ PHÍ VISA CHO CÔNG DÂN HOA KỲ LÊN GẤP 5 LẦN (Người Việt Online)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/05/viet-nam-tang-le-phi-visa-cho-cong-dan-hoa-ky-len-gap-5-lan-nguoi-viet-online/

September 4, 2016

http://www.nguoi-viet.com/viet-nam/viet-nam-tang-le-phi-visa-cho-cong-dan-hoa-ky-hon-5-lan/

HÀ NỘI (NV)Nhiều công ty du lịch ở Việt Nam như “đang ngồi trên lửa” vì phí visa dành cho công dân Hoa Kỳ bị tăng hơn gấp 5 lần. Continue reading

HỌC TIẾNG TRUNG À, ĐỂ LÀM GÌ? (FB Hải Lý)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/05/hoc-tieng-trung-a-de-lam-gi-fb-hai-ly/

Friday, September 2, 2016 at 9:44pm

https://www.facebook.com/notes/ . . . /10153591671651572

Bạn hớn hở báo tin là vừa ghi danh khóa học tiếng Trung. Tôi hỏi tại sao thì bạn tròn mắt như tôi là người vừa từ hành tinh nào rớt xuống. Nhìn tôi một cách đầy thương hại, bạn bắt đầu giảng giải… Continue reading

NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO MIỀN NAM ĐÃ KHÔNG HIỂU “NGƯỜI ANH EM” MIỀN BẮC CỦA MÌNH (FB N gô Nhật Đăng)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/05/nhung-nguoi-lanh-dao-mien-nam-da-khong-hieu-nguoi-anh-em-mien-bac-cua-minh-fb-ngo-nhat-dang/

Saturday, September 3, 2016 at 10:26am

https://www.facebook.com/nhatdang.ngo/posts/918629051615599

Năm 1984, Hà Nội cho công chiếu rộng rãi bộ phim của Mỹ “Việt Nam thiên lịch sử bằng truyền hình”, tiếp theo mạch của seri truyền hình CHDC Đức hơn 1 thập niên trước đó có tên “Phi công mặc áo ngủ”về những phi công Mỹ bị bắn rơi và giam tại Hỏa Lò-Hà Nội. Continue reading

KHAI GIẢNG NĂM NAY, AI KHÔNG ĐƯỢC ĐẾN TRƯỜNG ? (Phạm Thanh Nghiên)

https://ngoclinhvugia.wordpress.com/2016/09/05/khai-giang-nam-nay-ai-khong-duoc-den-truong-pham-thanh-nghien/

9/05/2016 42 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2016/09/khai-giang-nam-nay-ai-khong-uoc-en.html#more

“Năm lên sáu tuổi, mẹ dẫn tôi đi xin học. Ông hiệu trưởng trường đó chê tôi bé, không nhận. Tôi lại tha thẩn chơi ở nhà một năm. Năm sau, đến lượt bố tôi đưa con đi. Vẫn ông hiệu trưởng ấy, vẫn Ban Giám hiệu ấy chê tôi “còi”, không nhận. Bố tôi đưa giấy khai sinh cho họ xem. Ông ta chê tên tôi xấu và phán: Continue reading

SỰ MÃN NGUYỆN CỦA “CON LẠC ĐÀ” FORMOSA

http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=12165:s-man-nguyn-ca-qcon-lc-aq-formosa&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Author: Jos. Ngô Văn Kha Posted on: 2016-08-31

Mt19_23-30-320x240.jpg

“Con lạc đà Formosa” lim dim nhai và nuốt, “ruột gan” nó đang vận hành nhịp nhàng, “chất thải” của nó đều đặn xả ra biển khơi và cả trên đất liền. Nó an tâm và mãn nguyện, ít ra vào thời điểm này, nó vẫn an toàn, nhai và nuốt, tiêu hoá và “xả thải”. Continue reading

Đứt hệ thống điện trên cầu, hơn 300 người CamPuchia tử vong, Thủ tướng Hunsen từ chứ c

TIN CHƯA KIỂM CHỨNG

Thủ tướng Hunsen đã tuyên bố từ chức sau vụ chết người hàng loạt đêm 30/8 tại cây cầu trên sông Tonle Sap khiến hơn 300 người chết. Được biết toàn bộ cầu và hệ thống lưới điện đều được nhà thầu Trung Quốc thi công. Chơi với Trung Quốc sẽ phải trả giá không hề rẻ…

“Sự hoảng loạn bắt đầu và ít nhất 50 người đã nhảy xuống sông. Mọi người cố gắng trèo lên cầu trở lại, bám tay và kéo các dây điện khiến dây bị bung ra, gây ra tình trạng điện giật. Đây cũng là lý do khiến thêm nhiều người thiệt mạng”.


Continue reading

Lào không còn là ‘sân sau’ của Việt Nam?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/lao-khong-con-la-san-sau-cua-viet-nam.html

05 tháng 9 năm 2016

Chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Mỹ tới Vientiane đang thu hút sự chú ý tới quốc gia nhỏ bé nằm kẹt giữa nhiều nước, giữa lúc có ý kiến cho rằng Lào giờ không còn là “sân sau” của Việt Nam như trước.

Quốc kỳ của 10 nước thành viên ASEAN và các quốc gia đối tác được đặt xung quanh tượng đài Patuxay ở trung tâm Vientiane, Lào, 5/9/2016.
Quốc kỳ của 10 nước thành viên ASEAN và các quốc gia đối tác được đặt xung quanh tượng đài Patuxay ở trung tâm Vientiane, Lào, 5/9/2016.

Continue reading

Trung Quốc lo lắng việc Tập Cận Bình đọc sai thành ngữ của Trung Quốc

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/trung-quoc-lo-lang-viec-tap-can-binh-oc.html

05 tháng 9 năm 2016

Giới kiểm duyệt ở Trung Quốc đang ráo riết xóa trên Internet và truyền thông xã hội mọi lời đề cập đến việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đọc nhầm vài từ trong một bài phát biểu ở Hàng Châu trước hội nghị các lãnh đạo khối G20.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại 1 cuộc họp báo sau khi kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Hàng Châu, Trung Quốc, ngày 5/9/2016.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại 1 cuộc họp báo sau khi kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Hàng Châu, Trung Quốc, ngày 5/9/2016.

Continue reading

“Sự cố” ngoại giao Hàng Châu: Trung Quốc cố tình bạc đãi Obama ?

http://www.tintuchangngayonline.com/2016/09/su-co-ngoai-giao-hang-chau-trung-quoc.html

05 tháng 9 năm 2016

Bắc Kinh không trải thảm đỏ đón tổng thống Mỹ Barack Obama. Tranh cãi giữa các quan chức an ninh Mỹ và Trung Quốc trong việc bố trí phóng viên Mỹ tại sân bay Hàng Châu. Một loạt các sự cố ngoại giao đã diễn ra trong ngày 03/09/2016. Giới quan sát đặt câu hỏi: “Phải chăng Trung Quốc cố tình bạc đãi tổng thống Mỹ ? ”

media
Tổng thống Mỹ Barack Obama tới sân bay quốc tế Hàng Châu, Trung Quốc, ngày 03/09/2016. REUTERS

Continue reading

Học tiếng Hán làm gì? Chủ yếu là … mất công?

Posted by adminbasam on 05/09/2016

Jonathan London

5-9-2016

** Học tiếng Hán làm gì? Chủ yếu là … mất công? **

Về tranh cãi ‘học tiếng Hán làm gì?’ Được biết người Việt trong nước đang cãi nhau về chữ Hán (Old Chinese Script) hơn là tiếng Trung (Modern Chinese language, Mandarin) – Song, xin góp ý ngắn gọn về vấn đề dạy học cả về tiếng Hán lẫn tiếng Trung: Continue reading

Tin khó tin: Ao Yên Bái, đôi mắt Kỳ Anh và vé số Ninh Thuận

http://laodong.com.vn/tin-kho-tin/tin-kho-tin-ao-yen-bai-doi-mat-ky-anh-va-ve-so-ninh-thuan-589467.bld
05/09/2016

Nụ cười trên gương mặt các em học sinh Trường tiểu học Kỳ Lợi (thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh).

Chẳng biết năm nay Táo giao thông lên chầu Ngọc Hoàng có kể cho Ngài nghe đường sụp vì ao như ở Yên Bái hay không? Còn Táo tài chính chắc chẳng dám bẩm Ninh Thuận “ngăn sông cấm chợ” cả vé số tỉnh bạn và nhan nhản nơi chơi sang tiền ngân khố. May mà Táo giáo dục tươi tỉnh mà rằng con em vùng cá chết đã đến trường…

Ao ở Yên Bái

hcm408518-2.jpg
Chỉ tại cái ao làm toác đường (laodong.com.vn).

Continue reading